“TỰ THUẬT CỦA MẸ ALIX LE CLERC” – Phần 3
ĐỂ LÀM RÕ NGHĨA MỘT VÀI TỪ NGỮ
Trong Kinh Thánh, từ “xác thịt” chỉ toàn diện con người được xem là loài thụ tạo mỏng dòn. Đối với Thánh Phao-lô, (Rm 7-8), tính mỏng dòn này trở thành sự yếu đuối đưa đến tội lỗi. Do đó có tình trạng chống đối giữa con người theo thần khí và con người theo xác thịt, và có cuộc chiến nội tâm tất yếu giữa xác thịt và thần khí, vì xác thịt nơi con người thì chống lại ơn thánh. Thánh Au-tinh kế thừa tư tưởng này của Thánh Phao-lô, cũng như rất nhiều tác giả sách thiêng liêng. Theo một nghĩa hẹp hơn, khá phổ biến trong thế kỷ XVII, xác thịt sẽ chỉ về những “thú vui giác quan”, mà điều này có thể làm cho người ta đánh giá thấp thể xác và cường điệu lắm khi quá đáng việc hãm mình ép xác bên ngoài. Ở đây cũng như trong nhiều trường hợp, Thánh Phan-xi-cô Đờ Xan điều chỉnh lại cán cân : “Để chữa lành những thói hư tật xấu của chúng ta, hành xác là điều tốt, nhưng điều chủ yếu cần thiết hơn là thanh luyện tình cảm của chúng ta và làm cho trái tim chúng ta lại được tươi thắm” (Dẫn nhập vào đời sống thiêng liêng, phần 3, chương 23).
Dựa vào Kinh Thánh, thuyết “các giác quan thiêng liêng” đã để dấu ấn trên lịch sử linh đạo, kể từ thời Ô-ri-giê-nê. Thánh Au-tinh (Tự Thú, X ; Bài giảng, 159), các tác giả thời Trung Cổ -đặc biệt là Thánh Bô-naventura- đã từng nói về việc hoán cải cái “cảm nghiệm” này trong kinh nghiệm sống với Thiên Chúa. Và sau đó, Thánh I-nhã : “Không phải biết nhiều là điều làm thoả thích linh hồn, mà là cảm nghiệm và thưởng thức bên trong” (L.Th., 2).
Các từ “thần khí tốt, thần khí xấu” là của Thánh I-nhã. “Có ba loại tư tưởng nẩy ra trong tâm trí con người : một loại phát sinh từ chính bản thân con người, hai loại kia thì đến từ bên ngoài, nghĩa là được thần khí tốt hay thần khí xấu gợi lên” (L.Th., 32. Lưu ý “tư tưởng” đây không có nghĩa “ý nghĩ trừu tượng”). Cách sử dụng từ “thần khí” như thế là một truyền thống trong văn chương linh đạo ; “…nó gợi ý có một sự thông đồng của con người với cái sức lôi cuốn mà nó cảm thấy nơi mình đưa đến thiện và ác, đồng thời cho biết con người không đồng hoá với các sức mạnh ấy, và nó có khả năng thoát ra khỏi đó” (J.Cl. Guy, bình luận L.Th.). Thần khí tốt thông ban sức mạnh, can đảm, hân hoan ; thần khí xấu thì gây chia rẽ, lo âu, buồn phiền và bối rối. Việc phân biệt này không chủ trương thuyết nhị nguyên nói rằng có một thần Thiện và một thần Ac, cũng không ám chỉ những quyền lực huyền bí nào. Đây nói đến những sức mạnh can dự vào “cuộc chiến thiêng liêng”.
Thánh Tê-rê-xa A-vi-la phân biệt “thị kiến” tưởng tượng và thị kiến trí thức. Dùng từ theo thời đại của mình, ngài cho là tưởng tượng những thị kiến gồm có hình ảnh. Ngài lại nêu rõ (ở đây chúng tôi trích dẫn J. Delumeau trong “Catholicisme entre Luther et Voltaire” [Đạo công giáo giữa Luther và Voltaire], Paris, 1985) rằng các thị kiến này được đưa ra trước con mắt tâm linh chớ không phải con mắt thể xác. Thánh I-nhã cũng vậy, một hôm đang dự lễ, lúc dâng Mình Thánh Chúa, được thấy “với con mắt bên trong”, những tia trắng từ trời xuống. Dù sao, đối với các nhà huyền nhiệm thời ấy, được xếp hạng cao hơn các thị kiến “tưởng tượng” -dù hiện ra với con mắt tâm linh- là những thị kiến “trí thức” không dành cho mắt phàm nào, nhưng kéo dài lâu hơn loại kia rất nhiều và bày tỏ cách nhiệm mầu sự hiện diện hiển nhiên của Thiên Chúa. Linh hồn cảm thấy Chúa Giê-su ở cạnh bên mình, “tuy không thấy Ngài dù là với con mắt thể xác dù là với con mắt tâm linh” (Le château intérieur, 6es demeures [Lâu đài nội tâm, ngôi nhà thứ 6]), nó đoán thấy Thiên Chúa gần gũi đến nỗi nghe ấm lòng và được biến đổi. Xác tín có Đấng khác tôi hiện diện bên tôi mà không cần một hình ảnh nào, là cốt tuỷ của kinh nghiệm huyền nhiệm. Đầu thế kỷ XVII, Thánh Phan-xi-cô Đờ Xan sẽ viết như sau : “Cần gì phải chạy đến một hình ảnh nào, dù là bên ngoài hay bên trong, để hình dung Đấng mà ta đang thưởng thức sự có mặt bên mình ?” (Khảo luận về tình yêu Thiên Chúa, VI, 9).
