“TỰ  THUẬT  CỦA  MẸ  ALIX  LE  CLERC” – Phần 2

T.Th., 5“Cha tôi….cùng với cả gia đình đến ở tại một làng thuộc họ đạo Mattaincourt (Hymont). Ngài sinh ở làng này…”

          Chúng ta biết gì về cha mẹ của Mẹ Alix ?

          Rất ít về gia đình bên ngoại. Tên phụ nữ không phải luôn luôn được ghi trong các văn kiện chính thức. Phía bên nội, nhiều dữ kiện được Ông Pierre de Gonneville kiên nhẫn thu thập. Trong hiện trạng nghiên cứu, chúng ta biết rằng Ong Demenge Le Clerc le Viel, làng Hymont, có sáu người con : Jean, Didier, Francois, Demenge “con”, Catherine, Nicolas. Jean có hai con gái, Alix và Philippe, và một con trai, Jacques.

Ong Jean Le Clerc làm nghề buôn bán. Tại Remiremont, ông lần lượt làm trưởng ban thẩm phán  thường vụ, thẩm phán thành phố năm 1587, rồi thị trưởng năm 1591 (thị trưởng là người được Bề Trên Dòng Nữ Kinh Sĩ bổ nhiệm). Ong đến ở Hymont năm 1595, và qua đời tại đó khoảng 1602. Thân mẫu Mẹ Alix thì qua đời tại Mattaincourt năm 1609.

T.Th., 15“…có ba chị lần lượt đến tìm gặp tôi…”

          Đó là : Gante André (1578 ?-1645), Isabeau de Louvroir (1581-1628) và chị là Jeanne de Louvroir (1579 ?-1635), cả ba đều xuất thân từ Mattaincourt. Rất nhanh sau đó là Claude Chauvenel (1579-1633), từ Mirecourt, đến nhập đoàn với họ.

T.Th., 16“Tôi và các bạn cùng đến…” (Poussay)

          Chính đây là nơi diễn ra lần tĩnh tâm đầu tiên, được gọi là “tĩnh tâm viết phiếu”. Trong “Sơ lược ý định các Thiếu Nữ Dòng Đức Trinh Nữ Maria” (1610), có thể đọc : “Các cô lui về làng Poussay… Và ở đó, trong thời gian tám ngày mừng lễ Mình và Máu thánh Chúa, họ cùng nhau thảo luận xem, trước hết họ có nên lập gia đình hay không ; sau đó, nếu không lập gia đình thì có ở lại nhà cha mẹ không, hay đến ở một nơi hẻo lánh, và ở riêng một mình hay làm thành cộng đoàn ; có đi tu hay không ; đi tu trong một dòng đã có từ lâu hay một dòng mới. Rồi sau khi cứu xét cho kỹ tất cả các điểm trên, dành cho mỗi ngày một điểm  riêng…, đắn đo kỹ lưỡng, cân nhắc và thưa gởi với Chúa…, họ đã viết phiếu và kết quả cho thấy là họ đã hoàn toàn nhất trí với nhau (mỗi cô viết riêng quyết định của mình mỗi tối mà không biết quyết định của người khác là thế nào và không hề trao đổi gì với nhau)… Sau đó thì họ soạn bản văn của Luật Tạm.”

T.Th., 17“Các Cha của quý dòng ở Pont-à-Mousson đều biết được tất cả những gì đã xảy ra, và các ngài có ý kiến”.

          Do các cha Dòng Tên rất đông và nổi tiếng tại Lorraine thời bấy giờ, nên các ngài có liên hệ rất gần gũi với lịch sử những năm đầu tiên khai sinh Dòng Đức Bà, và thường thì có hiệu quả tốt. Ở đoạn 46, Mẹ Alix nêu lên một hoàn cảnh trong đó các ngài gây khó khăn, khi đi theo hướng nhìn của Cha Fleurant, thuộc Dòng Récollet ở Verdun. Thái độ Cha P.Fourier lúc ấy có thể gây thắc mắc, cũng như đã thấy ở đoạn 22 nằm trong cùng một bối cảnh, thời sơ khởi của Dòng. Ở đây lại còn thấy Cha không muốn chống cự các Cha Dòng Tên. Nhưng sự thận trọng của Cha đã cho phép công việc kết thúc tốt đẹp : Cha yêu cầu các chị em trao cho Cha, giấy trắng mực đen, ý kiến của mình, sau khi đã suy nghĩ chín chắn, và không bình luận, Cha đã gởi các phiếu đến Cha Fleurant (x. Sr Hélène Derréal, “Un missionnaire de la Contre-Réforme” [Một vị truyền giáo Phản Cải Cách], t. 171). Nên nối kết giai đoạn này với giấc mơ được Mẹ Alix thuật lại ở đoạn 47 : chính “Cha thánh I-nhã” đích thân củng cố lòng tin tưởng của Mẹ khi khuyến khích Mẹ theo hướng giáo dục trẻ nữ.

          Cha Fourier được nêu tên ở đoạn 17 là Jean Fourier, DT, (1522-1636), người anh họ của Cha P.Fourier. Ngài làm hiệu trưởng Đại Học Pont-à-Mousson khi P.Fourier học thần học tại đó ; rồi ở Avignon và Chambéry. Nơi đây, ngài trở thành người bạn và cố vấn của Francois de Sales, và đã “thúc mạnh” thánh nhân đem phổ biến tác phẩm của mình, “L’Introduction à la vie dévote” [Dẫn nhập vào đời sống thiêng liêng] (1608).

Về lối tượng hình của thời ấy 

          “Chính vào đầu thời kỳ cận đại …mà hoả ngục, các nhân vật trong đó và “bộ hạ” của nó chiếm cứ nhiều nhất óc tưởng tượng của người Tây Phương” (J. Delumeau, “La Peur en Occident” [Cái Sợ bên trời Tây], 1978). Bấy giờ mở ra nhiều cảnh tượng mới chưa từng được thám sát trước đó ; nguời ta đoán có những định luật tự nhiên chưa được kiểm soát. Cảm giác bất an biểu hiện trong việc sợ ma sợ quỷ, có một đất dụng võ thuận lợi trong một thế giới thấy “ma thuật” ở khắp mọi nơi. Hơn nữa, lối tượng hình thời ấy là hậu quả của những bài giảng nói những chuyện quá đáng và loại sân khấu bình dân đầy quái dị – những “chuyện ma quỷ” hãy còn có người ưa thích – cũng như các tranh ảnh, loại khắc khoải nhức nhối của một Jacques Callot miền Lorraine, chẳng hạn. Để thắng cái sợ, phải tìm cho ra những “vật tế thần”. Cái người ta biết thì người ta có thể khống chế… Quỷ Xa-tan sẽ bị đánh hạ qua những tai sai của nó, là kẻ bỏ bùa bỏ ngải, là những người phù thuỷ, thường bị kết tội là đã bán linh hồn cho ma quỷ. Các toà án truy nã trước hết những kẻ tham dự các “cuộc chè chén của Xa-tan”, nhưng trong một nhóm người đang yếu vía, thì một chuyện gì hơi là lạ, có vẻ khó giải nghĩa, cũng đủ để gây sự nghi ngờ và đưa đến việc lên án người vô tội.

          Tại xứ Lorraine, từ 1576 đến 1591, là một làn sóng những phiên toà xử phù thuỷ. Người ta nói một mình Nicolas Rémy, thẩm phán Nancy, đã đưa lên giàn thiêu 900 phù thuỷ nam nữ ; và ông tiếp tục như vậy khi làm tổng kiểm sát trưởng, từ 1591 đến 1620. Trên mười phiên toà, có chín phiên xử phụ nữ (x. R. Taveneaux, “Histoire de Nancy” [Lịch sử Nancy],1978). Những tác phẩm viết về “ma quỷ học” đầy dẫy trong thời kỳ này. Các sách dạy y khoa cho rằng nguồn gốc tất cả những bệnh không giải thích được là ở ma quỷ. Khảo luận của Hồng Y Bérulle về “các người bị quỷ ám” ra đời năm 1599. Trong khi các phù thuỷ bị coi là thủ phạm, thì người bị quỷ ám bị coi là nạn nhân, phải làm đủ thứ phép trừ tà để mà giải cứu họ.

          Elisabeth de Ranfaing (1592-1649) hay đến tìm Mẹ Alix ở tu viện gần Cổng St. Georges, có lẽ để được nâng đỡ trong những lần cô đến Nancy, kể từ 1619. Bị gán cái tên là “mụ bị quỷ ám của Nancy”, cô phải chịu đựng trong sáu năm trường những cuộc trừ quỷ mà người ta kéo nhau đến coi thật đông, từ các nước Pháp, Đức, Anh. Linh mục Dòng Tên Jean Guéret là một trong những nhà trừ quỷ. Cha P. Fourier sẽ buộc lòng phải đến dự một trong những buổi trừ tà đó. Cha Bedel, tác giả viết cuộc đời của Cha, có thuật lại giai đoạn ấy. Qua cơn thử thách dai dẳng này, cô sáng lập ngôi “Nhà nương náu”.

“Cảnh phù hoa”

          Ba chữ này gợi lên cả một mảng văn hoá của hai thế kỷ XVI và XVII. “Điểm quá độ của một nền văn hoá tự biểu hiện trong loại văn chương ảo tưởng” (M. de Certeau, 1966). Cuốn tiểu thuyết “l’Astrée”, viết giữa 1607 và 1627 với lối văn hoa mỹ, là một ví dụ. Cái tính nhạy cảm đối với tất cả những gì là phù phiếm và chóng qua này cũng xâm nhập ngôn ngữ hội hoạ. Thể loại hội hoạ gọi là “phù hoa” rất ăn khách ở Châu Au thế kỷ XVII. Đó là những “tĩnh vật” dùng cùng một thứ mã biểu tượng để minh hoạ câu được chép trong sách Giảng viên : “Phù vân ôi phù vân, tất cả là phù vân !”. Một đóa hoa tàn, một ngọn đèn vừa tắt nhả khói, những đồ vật -đồng hồ cát, gương soi, đồ trang sức, mặt nạ, sách vở, chiến lợi phẩm… -nhắc nhớ tính mong manh của những cuộc vui, của quyền hành và tri thức. Biểu tượng “cái sọ” được vẽ trên đa số các bức tranh. Nó kéo con người trở về với sự thật của chính mình, bên kia những hào nhoáng bên ngoài. Cách suy niệm về vận mạng con người đây, tự bản chất không hẳn là bi quan. Cái sọ người dưới chân các thập giá nhắc nhớ cuộc chiến thắng của Đức Ki-tô là A-đam mới đã đánh bại thần chết. Nó là dấu hiệu của ơn cứu chuộc và của niềm hy vọng phục sinh. Trong thể loại nghệ thuật này, linh đạo và văn hoá của một thời đại được gặp nhau…