Thánh Pierre Fourier, Người Đi Tiên Phong Trong Cuộc Canh Tân Công Giáo (Phần Cuối)
René TAVENEAUX
Nt. Amélie Nguyễn Thị Sang,CND chuyển ngữ
Các tác phẩm của thánh Pierre Fourier
Suốt cả đời, và dù có bao nhiêu nhiệm vụ của một chủ chăn, bao nhiêu trọng trách trong hàng ngũ nhà nước, Cha Pierre Fourier vẫn say sưa viết lách, mỗi ngày một hai ba lá thư, có khi còn hơn nữa. Vào tháng 4 năm 1633, cha tâm sự với chị em Châlons: “Tôi đã viết không biết bao nhiêu là thư, đến gù cả lưng; khi thì cho các ông kia (hoặc anh em Dòng kia), khi thì cho các bà nọ (hoặc chị em Dòng nọ)”. Những sản phẩm của cha, với số lượng cao, cũng có nội dung phong phú: nào là những luật dòng, hiến chương cho các cộng đoàn tu sĩ, nào là những chuyên luận về giáo dục, những tập nhỏ về đời sống thiêng liêng, hoặc những tùy bút mang đề tài chính trị hay xã hội. Nhưng cốt yếu là các bức thư, trong số đó có một ngàn năm trăm bức thư, viết từ 1598 dến 1640, đã đến tay chúng tôi. Lần xuất bản có nghiên cứu mới nhất về các bức thư này do các chị Hélène Derréal và Madeleinen Cord’home thực hiện, được các chị Gérardin và Marie-Hèlène Francais hoàn thành – các chị đều thuộc Dòng Đức Bà – cung cấp một tổng lượng thông tin cực kỳ phong phú. Một bức thư, đối với sử gia, là chứng từ hàng đầu. Thật vậy, đó là những nét diễn tả cách trung thực nhất bản lãnh cũng như những suy tư và tâm tình người viết, không màu mè son phấn. Đó cũng là chứng từ về quãng thời gian hoặc một môi trường, tùy theo mức độ tác giả đã thấm nhuần những khát vọng và mơ ước của người đương thời. Đọc ở quan diểm này, tác phẩm của cha xứ Mattaincourt chất chứa vô vàn những thông tin, và không có vấn đề nào, cơ cấu nào, trào lưu tư tưởng nào, mà cha không chú ý đến. Ví dụ cha nói về tôn giáo ở nhiều khía cạnh khác nhau (tín lý, linh đạo, mục vụ, luân lý, Giáo Hội học), về chính trị (nguyên tắc lý thuyết và ứng dụng cụ thể), về những chi tiết của cuộc sống hằng ngày (điều kiện cư trú, lương thực, di chuyển, sức khỏe), về các đề tài pháp lý (pháp chế, công chứng thư, trái khoán). Trong các tác phẩm của cha, xứ Lorraine luôn có mặt, không phải với những thực tại sử địa của nó cho bằng dưới một tầm nhìn hoạch định một “bản đồ tình thương”: giữa các thành thị và các vùng dân cư, cha thiết lập một bậc thang tinh thần và con tim. Lòng cha nghiêng về phía Mattaincourt là xứ đạo của cha; về phía Mirecourt là sinh quán của cha; về phía Nancy là thủ đô công quốc; về phía Pont-à-Mousson, điểm cao của giới trí thức và trụ sở của chủng viện các kinh sĩ; và có lẽ cha nặng tình nhất với Saint-Mihiel là một trong những trung tâm ưu tú của Dòng Đức Bà, thuở ban đầu là thành phố của giáo sĩ và luật sĩ, do đó đã cố kết được cả tâm tình tôn giáo lẫn tinh thần trung hiếu với dòng họ công tước. Cho đến hơi thở cuối cùng, cha ưa thích nhắc đến tu viện Saint-Mihiel của cha, “đã một thời bao lý thú và phong phúc và kiêu hùng, nhà đầu tiên được bảo đảm an toàn cho các phụ nữ thánh thiện thuộc Dòng Đức Bà là Mẹ Thiên Chúa”, và cha cũng ưa thích nói lên lòng biết ơn của cha đối với tu viện này, vì đã luôn “trân trọng cha biết bao, tiếp đón cha với tình bác ái rộng lớn thế nào, và cư xử với cha bao là sang trọng, độ lượng, rộng rãi!”. Ở đó, cha có một ngôi nhà nhỏ trong khu vườn của chị em; cha thích lánh xa các tiếng động và những cặp mắt tò mò, đi ẩn mình trong các ốc đảo yên tĩnh này, mà trong một bức thư viết ngày 28 tháng 9 năm 1640, vài tuần trước khi qua đời, cha gọi là “một góc địa đàng nho nhỏ”. Đó là nơi trú ẩn cuối cùng của cha trước ngày biệt xứ lưu vong.
Những văn kiện được tập hợp trong sách này được trình bày theo chủ đề. Cha Pierre Fourier được gợi nhớ qua các hướng suy tư và hành động đa dạng của cha: mục vụ, linh đạo, hoạt động, học đường, chính trị, giao tế. Nhưng niên biểu kèm theo các văn kiện này cho phép theo dõi sợi chỉ đỏ thời gian cuộc đời của cha. Như vậy, có thể đưa ra vài nét nổi bật:
– 1598 – 1620: Những năm hòa bình thịnh vượng. Cha xứ Mattaincourt có thể bỏ cả thời giờ chăm lo việc huấn giáo, mục vụ, phát triển các hoạt động, canh tân xứ đạo.
– 1620 – 1630: De dọa chiến tranh bắt đầu. Các quân lính băng qua lãnh thổ, các bệnh truyền nhiễm lây lan, nên tâm thức tập thể bị lung lay: các hiện tượng phù phép lên tới cao điểm và những năm 1628 – 1629. Cha Pierre Fourier tiên lượng những tai họa thảm hại nhất cho xứ Lorraine.
– 1630 – 1636: Các mối đe dọa thành hình rõ nét: xứ Lorraine tham chiến. Năm 1632, Cha Pierre Fourier nhận chức tổng quyền Dòng Kinh Sĩ Đấng Cứu Độ: Chức vụ cha sở của cha thay đổi thể thức và chiều kích. Việc mục vụ không còn đóng khung trong giới hạn một họ đạo nữa; cha còn phải đối phó với nhiều khó khăn nghiêm trọng từ các Giám mục, đặc biệt các Giám mục nước Pháp. Các vị này sợ rồi đây các tu viện sẽ vuột khỏi quyền hành của mình, mặt khác e rằng các kinh sĩ xứ Lorraine sẽ có ảnh hưởng trên giáo dân của mình. Bị cưỡng ép tuyên thệ trung thành với vua nước Pháp, cha quyết định ra đi sống lưu vọng trên lãnh thổ Tây Ban Nha, và tìm được nơi ẩn náu tại Gray, miền Franche-Comté.
– 1636 – 1640: Thời kỳ lưu vong tại Gray. Trong thời kỳ này, các tác phẩm của cha, nhất là thư tín, không lệ thuộc thời sự nhiều như trước. Nội dung là một suy tư triền miên về Giáo Hội, giáo dục, văn hóa đạo đời, tổ chức toàn bộ thế giới và tương lai của khối Kitô giáo. Cha viết những bức thư dài hơn, có khuynh hướng gởi gắm vào đó di chúc thiêng liêng của mình.
Nhờ có một vốn văn hóa uyên thâm, một đường lối mục vụ nhiệt tình, những sáng kiến táo bạo, số lượng và phẩm chất của các văn phẩm, Cha Pierre Fourier nghiễm nhiên được xem là nhân chứng ưu việt của việc Canh Tân Công giáo. Công trình của cha về mặt thiêng liêng bắt nguồn từ hai sự kiện: Công đồng Tren-tô và nề nếp giáo dục ở Pont-à-Mousson. Cha đã để lại dấu ấn sâu đậm trên khối Công giáo xứ Lorraine – (tương tự) bên Pháp trên căn bản nhưng khác biệt trong lối sống thực tiễn. Vả lại, vai trò của cha không chỉ dừng lại ở đó: cha rất ý thức rằng những năm tháng đời cha – tức những thập niên cuối cùng của thế kỷ XV và đầu tiên của thế kỷ XVII – cũng là những năm tháng của một biến chuyển tận căn trong khối châu Âu. Là một biến chuyển do trào lưu nhân văn bành trướng lên, việc phổ biến sách vở được mở rộng ra, xã hội nông thôn chuyển thành xã hội đô thị, kinh tế nông nghiệp bước qua kinh tế thương mại. Từ những biến chuyển đó, đã thành đạt hoặc đang hình thành, cha biết rút ra những hậu quả thực tiễn; do đó cha chú tâm đến các vấn đề liên quan đến học đường và văn hóa, việc phát triển giao dịch tín dụng, một đường lối chính trị không chỉ dựa trên những thông lệ kế ngôi giữa các hoàng tộc, mà còn trên cơ sở những nguyên tắc đạo đức và tôn trọng triệt để luật pháp nữa. Nói thế để cho thấy bản lãnh và công trình của cha sở họ đạo Mattaincourt chiếm một vị trí nổi bật trong tương lai của Giáo Hội cũng như lịch sử văn minh ở châu Âu.
NIÊN BIỂU
CUỘC ĐỜI THÁNH PIERRE FOURIER
VÀ THỜI ĐẠI CỦA NGÀI
1540 Sáng lập Dòng Tên
1545 Khai mạc Công Đồng Tren-tô
1552 Pháp xâm chiếm vùng Trois-Evêchés
1559 Hiệp ước Cateau-Cambrésis
Vua nước Pháp Henri II băng hà
1562-1598 Chiến tranh các giáo phái (bên Pháp)
1563 Bế mạc Công Đồng Tren-tô
1565 (30/11) Thánh Pierre Fourier chào đời tại Mirecourt
1565-1572 Triều Giáo Hoàng Pi-ô V
1566 Giáo lý Công Đồng Tren-tô
1571 (7/10) Chiến thắng Vịnh Lépante
1572 Thành lập đại học Pont-à-Mousson
1576 Giai đoạn đầu Liên Minh – Mẹ Alix Le Clerc chào đời
1579 Thánh Pierre Fourier nhập học đại học Pont-à-Mousson
1585 Thánh Pierre Fourier gia nhập Đan Viện Chaumousey
1589 (25/2) Thánh Pierre Fourier thụ phong linh mục tại Trèves
Vua nước Pháp Henri III bị ám sát
1589-1595 Thánh Pierre Fourier trở lại học tại đại học Pont-à-Mousson (Thần học và Luật)
1589-1610 Triều đại vua Henri IV
1597 (1/6) Thánh Pierre Fourier tới Mattaincourt
(25/12) Dòng Đức Bà ra đời
1598 Mái trường đầu tiên của Dòng tại Poussay
1608 Công tước Charles III băng hà – Thế tử Henri II nối ngôi cha
1618 Bắt đầu Cuộ Chiến Ba Mươi Năm
1622 Mẹ Alix Le Clerc qua đời
Thánh Phan-xi-cô Đờ Xan qua đời
Quân đội Tin Lành của Manseld tàn phá Lorraine
1623-1644 Triều Giáo Hoàng Ur-ba-nô VIII
1624 Richelieu làm khanh tướng
Công tước Henri II băng hà
1625 Thánh Pierre Fourier đi giảng tại Badonviller và quận Salm để giúp người
Tin Lành trở lại
1625-1675 Triều đại Công Tước Charles IV
1628 Sắc lệnh của Đức Ur-ba-nô VIII phê chuẩn Dòng Đấng Cứu Độ và Dòng Đức Bà
1632 Gaston d’Orléans kết hôn với Marguerite de Vaudémont
Thánh Pierre Fourier được bầu làm tổng quyền Dòng Đấng Cứu Độ
1634 Quân lực Pháp xâm chiếm Lorraine
Nicolas-Francois kết hôn với Công Chúa Claude
1636 Thánh Pierre Fourier bị lưu đày tại Gray
1640 (9/12) Thánh Pierre Fourier qua đời tại Gray
1642 Richelieu qua đời
1643 Louis XIII băng hà
1645 Tác phẩm đầu tiên về “cuộc đời Cha Pierre Fourier” – Cha Bedel phát hành
1648 Hiệp ước Westphalie
1730 (1/1) Cha Pierre Fourier được phong Á Thánh
1897 (27/5) Cha Pierre Fourier được phong Hiển Thánh
1947 (4/5) Mẹ Alix Le Clerc được phong Á Thánh
