“NÀNG” CỦA SÁCH DIỄM CA

MỘT GƯƠNG MẶT ĐỘC ĐÁO TRONG CỰU ƯỚC  :

“NÀNG” CỦA SÁCH DIỄM CA

Cho tới đây, chúng ta đã lần lượt nhìn qua các gương mặt phụ nữ trong Kinh Thánh theo bốn mô hình đã được chọn để dễ nhận diện và ghi nhớ. Nay chúng ta cần có một chương riêng dành cho “Nàng” của sách Diễm ca, bởi vì trước hết Nàng đây không phải là một con người lịch sử hoặc là nhân vật của một câu truyện có đầu có đuôi, nhưng là một biểu tượng, và kế đến bởi vì biểu tượng này lại không nằm trong mô hình nào của bốn mô hình đã xem qua.

  Nàng  không thuộc hạng người nữ làm mẹ vì không hề đề cập đến chức năng này cho mình ;

            không thuộc mô hình người nữ giao tế, tuy thoạt tiên tưởng có thể liệt vào hạng người này ;

            không phải là người trung gian, vì Dc cho thấy Nàng chỉ biết có “Chàng” ;

            và càng không thể là người tự lập vì tỏ ra như không thể sống mà không có Chàng.

Kinh Thánh đưa ra đây một mô hình “lý tưởng” : Nàng xuất hiện như “người tình” tiêu biểu”, lại là kết tinh của “tình si”, là hiện thân của tình yêu. Chẳng những Nàng chạy đi kiếm Chàng, “lang thang thất thểu” (1,7d), mà chính Chàng cũng gọi Nàng là “tình yêu” (2,7 ; 3,5 ; 7,7 ; 8,4). Vì thế, Nàng thật là người phụ nữ lý tưởng, và trong một phần sau, Dc sẽcó câu : “các thiếu nữ thấy nàng (đều) ngợi khen nàng diễm phúc”(6,9). Đối với các nhân vật trong bản tình ca này, không phải con người, mà tình yêu, mới là trọng tâm của cuộc sống.

            Vậy chúng ta hãy tìm xem biểu tượng này nói lên những gì. Từ khi Dc được đưa vào qui điển Kinh Thánh, các nhà chú giải đã đọc và hiểu ra những nội dung khác nhau tuỳ truyền thống. Có ba cách đọc và hiểu đã được Giáo Hội xác nhận để hướng dẫn chúng ta trong việc tìm hiểu ý nghĩa và giá trị của gương mặt nữ rất độc đáo và có vẻ không mấy thánh thiện này : truyền thống Do-thái giáo, truyền thống Ki-tô giáo và hướng chú giải hiện đại.

            1/ Truyền thống Do-thái giáo đã đọc tập thơ Dc theo hướng phúng du.

                        a/ Phép phúng dụ cho hiểu Nàng là hình ảnh của Dân Chúa, và Chàng là chính Thiên Chúa của Ít-ra-en. Những gì chúng ta đã nói trên về cái cặp phương trình thiệt thòi cho phụ nữ (Thiên Chúa = người chồng muôn đời trung tín, và Ít-ra-en = người vợ lắm lúc ngoại tình) bắt nguồn từ các sách ngôn sứ, mà âm hưởng các lời ngôn sứ lại rất đậm nét trong tập thơ này. Nhưng chính vì Do-thái giáo đã từ đầu đọc thấy trong Dc thiên tình sử của dân Ít-ra-en với Thiên ChúaDc đã được nhận vào qui điển sách thánh. Do đó, không có lời yêu thương nào của Nàng (hay của Chàng) trong Dc bị đánh giá là lố lăng hay là thái quá cả. Ví dụ ai có thể trách Ít-ra-en (Nàng) đã thốt lên những lời yêu đương tha thiết như : “Hãy kéo em theo anh, /  đôi ta cùng mau bước !” (1,4) hay là : “Chàng đi rồi, hồn tôi như đã mất (5,6) … Phải, tình yêu mãnh liệt như tử thần, / cơn đam mê dữ dội như âm phủ”( 8,6). Và ai lại không cảm động khi nghe Thiên Chúa nói qua miệng “Chàng” : “Này em gái của anh, /  người yêu anh sắp cưới, /  trái tim anh, em đã chiếm mất rồi ! (4,9) và “Bồ câu của tôi là duy nhất, /  người đẹp của tôi chỉ có một”(6,9) ? Trong tuần lễ Vượt Qua Do thái giáo, Nàng được nhắc đến trong các hội đường như đối tượng rất được Thiên Chúa ân cần chăm sóc, dắt đi an toàn băng qua Biển Đỏ :”Bồ câu của anh ơi, em ẩn trong hốc đá, trong vách núi cheo leo…”(2,14) ! Trong suốt lịch sử đau thương của Ít-ra-en, những lời nồng cháy của Nàng đã đóng một vai trò rất lớn để giúp Dân Chúa giữ vững và đào sâu niềm tin của mình : “Nước lũ không dập tắt nổi tình yêu, sóng cồn chẳng tài nào vùi lấp. Ai đem hết gia tài sự nghiệp  /  mà đổi lấy tình yêu, /  ắt sẽ bị người đời khinh dể “ (8,7) – vâng, Ít-ra-en đã dám làm như vậy !

                        b/ Nàng còn tượng trưng cho miền đất Pa-lét-tin. Những nét đẹp của Nàng gợi nhớ trong lòng người Do-thái biết bao hình ảnh thân thương của quê hương yêu dấu : “Nàng đẹp tựa Tia-xa, duyên dáng tựa Giê-ru-sa-lem (6,4) … Tóc nàng gợn sóng như đàn sơn dương / tự trên ngàn Ga-la-át tủa xuống … Cổ nàng đẹp như tháp ngà Đa-vít … Áo em toả hương thơm ngào ngạt /  tựa hương núi Li-băng (4,1.4.11) … Đôi mắt em như mặt hồ Khét-bôn … Đầu em như Các-men đỉnh núi” (7,5-6). Và ở những đoạn Chàng say sưa mô tả vẻ đẹp của Nàng từ đầu xuống chân (hay theo chiều ngược), độc giả Do-thái nhận ra chính Thiên Chúa như đang trầm trồ từ Bắc chí Nam (hay ngược lại) lãnh thổ Pa-lét-tin, mà Người đã yêu thương tặng ban cho họ.

            Biểu tượng tình yêu này có giá trị lớn lao đến đỗi Ráp-bi A-ki-ba, một bậc thầy Do-thái của thế kỷ 1 CN, đã tuyên bố : “Cả thế giới này không sao sánh được với cái ngày mà khúc Diễm ca được ban cho Ít-ra-en” (Khảo luận Gia-đai-gim 3,5).

            2/ Truyền thống Ki-tô giáo tiếp nối truyền thống Do-thái giáo nói trên, nghĩa là cũng đọc Dc theo hướng phúng du. Các sách thiêng liêng trong kho tàng tu đức và chiêm niệm của Giáo Hội từ buổi sơ khai đều đã hiểu lời văn theo nghĩa bóng,  và cho các nhân vật mang một ý nghĩa thuần tuý thiêng liêng. Vậy Nàng là Ít-ra-en mới (tức là Giáo Hội), là linh hồn mỗi một cá nhân người Ki-tô hữu -không phân biệt nam hay nữ-, đặc biệt người tận hiến cho Chúa Ki-tô, và tinh tuý hơn cả : Nàng là tiền ảnh của Đức Ma-ri-a.

            Dưới đây, chúng ta thử ghi song đối một vài lời trong Dc đã từng được dùng với ý nghĩa phúng dụ, để đối ứng với một số đoạn khác trong Kinh Thánh mang ý nghĩa hiển nhiên :

Nang trong Diem Ca

Trên đây chỉ mới trích dẫn một vài câu Kinh Thánh đã từng được đem song đối với Dc. Còn có vô số những bài giảng giải, bình luận, của các Giáo Phụ, những trang tự thuật của các nhà huyền nhiệm là những bậc thầy về đời sống thiêng liêng, đều suy gẫm về ý nghĩa phúng dụ của tập thơ Dc. Trong số các tác giả và bậc thầy nổi tiếng nhất, có ông Ô-ri-giê-nê, các thánh Gio-an Kim Khẩu, Am-rô-xi-ô, Âu-tinh, Gio-an Thánh Giá, Tê-rê-xa A-vi-la ; đặc biệt có thánh Bê-na-đô là vị đã thiết tha chiêm ngắm Đức Ma-ri-a dưới vẻ đẹp kiều diễm của “Nàng”, và để lại cho Giáo Hội một di sản quí giá vô cùng phong phú gồm những thiên thánh thi và những lời kinh vẫn còn được tụng niệm trong thời đại chúng ta. Nhờ đó, nhiều đoạn trong Dc đã được đưa vào Phụng vụ công giáo để dùng vào những lễ kính, lễ nhớ Đức Ma-ri-a, các thánh trinh nữ, những nghi thức thánh hiến, vv … Qua gần hai ngàn năm kinh nghiệm sống, truyền thống phúng dụ Ki-tô giáo này đã vun đắp cho người Ki-tô hữu một tương quan đặc biệt với Thiên Chúa, một cái nhìn thiêng liêng độc đáo về ơn gọi của mình : một ơn gọi mang sắc thái nữ tính rất đậm, để sống tương quan giao ước với Thiên Chúa Tình Yêu.

3/ Hướng chú giải hiện đại xếp Dc vào loại tình ca, nên trả lại cho nó ý nghĩa trực tiếp và hiển nhiên của nó. Tuy chỉ là biểu tượng và lý tưởng, tình yêu nam nữ trong Dc thuộc phạm trù nhân sinh và có giá trị nội tại. Nhưng có lẽ chính vì nó là lý tưởng, nên tình yêu này mới là kết tinh của những giá trị nhân sinh trong tương quan nam nữ. Thật vậy, Dc ca ngợi mối tình đầy mộng mơ của một đôi trai gái yêu thương nhau.

Như các nhân vật trong mọi tập tình ca, Chàng và Nàng cũng được đặt vào một vũ trụ riêng biệt, mang nhiều yếu tố thi ca rõ rệt :

a/ Một vũ trụ dạt dào yêu thương, đầy hương vị, màu sắc, trong đó họ làm bạn với trăm ngàn cỏ cây, động vật, như “trong một cõi Ê-đen vừa được tái tạo”. Họ khao khát nhau, đi tìm nhau, quấn quít nhau, muốn “biết” nhau (theo nghĩa Kinh Thánh), như mọi đôi lứa trên cõi nhân gian.

b/ Tiếng nói tình yêu của họ thông qua nhiều ẩn ngữ thuộc lãnh vực yêu đương : núi mộc dược, đồi nhũ hương, ngạt ngào hương phấn, khu vườn cấm, dòng suối canh phòng nghiêm mật, giếng nước niêm phong, ngải yêu…

c/ Họ có lối nói của mọi kẻ si tình, như : ”Xin cho tôi bánh nho để tôi tìm lại sức, /  cho tôi táo để tôi được bồi dưỡng, /  bởi vì tôi đã ốm tương tư !” ( 2,5)táonho, trong tiếng Híp-ri, cũng là ẩn ngữ đưa về tình yêu ; và câu này, với giọng điệu rất là Việt Nam : “Ân ái của anh còn ngọt ngào hơn rượu – Ân ái của em nồng nàn hơn cả rượu !”(1,2 và 4,10).

d/ Đôi khi hình bóng Nàng thấp thoáng dưới nhiều nét khó hiểu, kỳ bí, mà cho tới ngày nay, các nhà chuyên môn hãy còn lúng túng khi phải phiên dịch và chú giải. Ví dụ : “Kìa ai đang tiến lên từ sa mạc, /  tựa hồ những cột mây (3,6) … Kìa bà nào xuất hiện như rạng đông, /  … /  oai hùng như đạo binh chỉnh tề hàng ngũ ? (6,10) … Kìa ai đang tiến lên từ sa mạc, /  nép mình vào người yêu ? (8,5)”. Những điểm khó hiểu này, phép phúng dụ có khi đóng vai trò làm chìa khoá để giải, đặc biệt được áp dụng để nói về Đức Ma-ri-a hoặc về những kinh nghiệm huyền nhiệm, như thường thấy trong các sách thiêng liêng, trong các đáp ca và thánh thi của Phụng vụ.

đ/ Họ đưa nhau về thời điểm xa xôi, đầu đời của họ, cụ thể là thời còn trong bụng mẹ, như biểu lộ niềm khao khát thấy tình yêu của mình được mang giá trị vĩnh hằng. Ví dụ các câu : “Tôi đã gặp người lòng tôi yêu dấu. /  Tôi vội níu lấy chàng /  và chẳng chịu buông ra /  cho đến khi đưa về nhà thân mẫu, /  tới khuê phòng người đã cưu mang tôi (3,4) … Em sẽ đưa anh vào nhà mẹ em, /  và anh sẽ chỉ dạy cho em – Anh đã đánh thức nàng dưới góc cây táo. /  Chính nơi đây, thân mẫu sinh ra nàng, /  chính nơi đây, nàng đã lọt lòng mẹ” (8,2.5). Chúng ta có thể so sánh  những câu thơ này với câu : “Yêu nhau từ thuở mẹ về với cha” của người Việt Nam chúng ta. Và điểm này có một ý nghĩa đặc biệt trong khoa tâm lý học hiện đại.

Có điều lạ là hai nhân vật không một lần nào nêu danh Thiên Chúa (điều làm cho nhiều người chống đối sự kiện Dc được liệt vào qui điển Kinh Thánh) : như thể họ mặc nhiên cho hiểu rằng tình yêu của họ đã được Thiên Chúa chúc phúc. Sách Sáng thế đã chẳng nói rằng “Thiên Chúa thấy (tình yêu này) là rất tốt đẹp” đó sao (1,27 ; 2,23-25) ? Thật vậy, họ yêu nhau trong tự do, bình đẳng, trực diện nhau không hề hổ thẹn, thốt lên những lời đưa tình rất táo bạo : “Chàng đưa tay trái cho tôi gối đầu, /  đưa tay phải ghì chặt lấy tôi – Này em gái của anh, /  người yêu anh sắp cưới, /  vườn của anh, anh đã vào rồi, /  đã ăn mật …/  đã uống sữa, uống rượu dành cho anh” (2,6 và 5,1). “Cô gái” này đâu chịu để mình thua chàng trai : anh say đắm ? cô cũng say đắm : “Tôi thuộc trọn về người tôi yêu, cho lòng chàng cháy rực lửa thèm muốn” (7,11, x. chú thích). Ai hỏi gì, Nàng trả lời thẳng toạc : “Gặp người tôi yêu, các bạn sẽ cho biết tin gì ? Xin cho nhắn rằng : tôi đang ốm tương tư !” (5,8). Lưu ý là trong một xã hội theo phụ hệ -như ta đã thấy trong phần trước-, soạn giả Dc lại đạo diễn cho thấy chính cô là người mở màn, đi bước trước trong việc tỏ tình, mà là mối tình si : “Ước gì chàng hôn ta /  những nụ hôn chính môi miệng chàng !” (1,1). Tình yêu nồng cháy của họ “coi xác thịt là thiêng liêng, gặp cái thiêng liêng trong xác thịt” : “Lửa tình là một ngọn lửa thần thiêng” (8,6). Đây đúng là nét son của tình yêu nguyên thuỷ mà Đức Giê-su đã nói lên khi nhắc lại tính bất khả phân ly của đôi nam nữ đã thành thân theo kế hoạch của Thiên Chúa (x. Mt 19,4-6.8-9). 

Vậy để hiểu cho đầy đủ và “chính thống” thông điệp thiêng liêng của tập Dc, cần phải phối hợp cả ba hướng đọc hiểu vừa nêu trên : chúng ta sẽ thấy gương mặt của người nữ trong đó thật là “đa năng”, với nhiều nét đáng cho các độc giả Kinh Thánh nghiên cứu và suy niệm. Cách đọc có tính cách tổng hợp này sẽ giúp chúng ta lột được ý nghĩa thần học rất lớn của cuộc đối thoại “trong xác thịt và qua xác thịt” của đôi trai gái tiêu biểu này.

M. Amélie Nguyễn Thị Sang, CND

 Biên soạn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Jennifer Dines, CND. How to read the Bible as women (Đọc Kinh Thánh với tư cách là phụ nữ : như thế nào?). Liên tu sĩ Anh Quốc 1996.

2. R. de Vaux, OP. Institutions de l’Ancien Testament (famille – femmes – veuves – enfants – succession – héritage) Cơ cấu (Ít-ra-en) thời Cựu Ước. Paris 1960

 3. Th. Maertens. La promotion de la femme dans la Bible (Bước thăng tiến của phụ nữ trong Kinh Thánh). Edition Casterman 1967

4. A. Jaubert. Les femmes dans l’Ecriture (Phụ nữ trong Kinh Thánh)Vie chrétienne, Ed. du Cerf 1992

 5. Brépols. Dictionnaire encyclopédique de la Bible / Femme (Từ điển bách khoa môn Kinh Thánh / Phụ nữ). 1987

6. J. Laplace, SJ. Người nữ và cuộc đời thánh hiến (Tài liệu chủ đạo cho phần IV.B)Chemins de la foi. Ed. du Châlet 1964

7. A.M. Pelletier. Le Cantique des cantiques (Sách Diễm Ca). trong Cahiers Evangile, số 85 Ed. du Cerf 1993