Á THÁNH ALIX LE CLERC (09/01)
“Ước gì Thiên Chúa là mối tình trọn vẹn của chị em”
(Alix Le Clerc)
Ngày 09-01-1622, Á Thánh Alix Le Clerc đã an nghỉ. Cuộc đời Mẹ ngắn ngủi nhưng đầy những thị kiến, chiến đấu, thử thách nội tâm,… nhưng mẹ quyết tâm yêu mến Chúa hết lòng, và tha thiết với thiên chức giáo dục. Mẹ đã hiệp lực với Thánh Pierre Fourier lập một ngôi nhà mới cho các nữ tu để làm những điều tốt lành nhất có thể làm được: đó là Dòng Đức Bà.
“Ta mong sao cho những linh hồn bé nhỏ này,
giống như những trẻ sinh hoang bị mẹ chúng ruồng bỏ,
tìm thấy nơi con một người mẹ.”
Ngày 02 tháng 02 năm 1576,
Alix chào đời tại Remiremont, là con gái của Ông Jean Le Clerc và Bà Anne Sagay, và được thanh tẩy cùng ngày. Cô bé vui tính, thông minh và đa cảm, lại dồi dào sinh lực.
Alix xinh đẹp, thích khiêu vũ, giao du với các chàng thanh niên, vui vẻ tham gia các lễ hội mà các bà Nữ Kinh Sĩ tổ chức …
Một ngày kia, Cô bị bệnh phải nằm nhà. Để giết thì giờ, Cô đọc một cuốn sách mà một chàng trai đã nghịch ngợm thảy lên giường Cô.
Đọc xong cuốn sách, Cô đi xưng tội, và chiêm bao thấy Đức Mẹ gọi Cô và nói :
“Đến đây con, Mẹ sẽ tiếp nhận con,
vì đang khi có tội, con đã làm điều đẹp lòng Con của Mẹ là đi xưng tội.” (§ 4)
Nhưng rồi Alix lại trở về với lối sống ăn chơi, tuy rằng giữa tất cả những cuộc vui như thế, cô cảm thấy không giống như trước nữa :
“Tâm hồn tôi buồn bã giữa cảnh phù hoa, và tôi nghiêng theo ý định rời khỏi Remiremont là nơi tôi sống quá xa hoa với bao nhiêu bạn trẻ.” (§ 5)
Và rồi có một dịp tốt để rời khỏi Remiremont : cha Cô lâm bệnh, nên gia đình quyết định trở về quê quán.
Hymont
Hai năm sau khi gia đình Le Clerc đã ổn định nơi ăn chốn ở, thì làng Mattaincourt, cách Hymont 1 cây số, nghênh đón cha sở mới : Cha Pierre Fourier.
“Chiều theo lòng sùng kính Đức Mẹ tôi sẵn có, tôi quyết định đi xưng tội.
Tôi xin mời Cha hiền chúng ta đến nghe tôi xưng tội, nhưng ngài không rảnh, thế là tôi mất luôn lòng sùng kính của tôi, lúc ấy không được vững lắm.” (§ 7)
Một ngày Chúa Nhật nọ, giữa thánh lễ trong nhà thờ Mattaincourt nhỏ bé, Alix bị chia trí bởi một cảnh tượng lạ thường. Khi ngước mắt lên, Cô thấy, như trong mơ, quỷ dữ đang dẫn đầu một đám thanh niên thiếu nữ rập rình theo sau nó theo một điệu vũ khúc. Bấy giờ Cô hiểu rằng Cô phải đổi đời.
“Tôi tự nhủ từ nay, tôi sẽ làm ngược hẳn với trước đây trong mọi hành động của mình,
và sẽ làm tất cả những gì tôi biết là đẹp ý Chúa, dù cho phải chết.“ (§ 8)
Alix bắt đầu cầu nguyện nhiều hơn. Cô sẽ sống để làm gì đây ?
Cô cảm thấy cô đơn quá … Cô quyết định đi gặp cha sở Mattaincourt và trao gởi cho Cha ước muốn của mình là sống cho Thiên Chúa và cho tha nhân.
Vốn là người Lorraine với tính thận trọng, Cha Pierre Fourier để cho Alix kể hết sự tình, và ướm thử cho Cô hướng về phía các hội dòng đã sẵn có, như các Nữ Tu Clara ở Pont-à-Mousson chẳng hạn. Nhưng trong thâm tâm, Alix lại có một linh cảm khác :
“Khi tôi cầu nguyện với Chúa, lòng trí tôi luôn nghĩ phải lập một nhà mới cho phụ nữ,
để làm ở đó mọi việc lành có thể làm được.” ((§ 15)
Cha Pierre Fourier yêu cầu Alix đi tìm cho ra những đồng bạn, vì một mình cô không thể lập “một nhà mới”. Cha chờ Thiên Chúa ban cho một điềm lành.
Thế là
“Trong vòng không tới sáu tuần hoặc hai tháng, có ba chị lần lượt đến tìm gặp tôi, thổ lộ niềm ao ước họ vừa mới có về việc đi tu và nhập đoàn với tôi.” (§ 15)
Đêm Lễ Giáng Sinh 1597,
Các cô Alix, Isabeau, Gante và Jeanne công khai tuyên bố ý định của mình tại nhà thờ Mattaincourt. Cha Pierre Fourier cho họ đọc một lời dâng hiến sơ khởi với Đức Maria, và Cha giải thích ý nghĩa biến cố này cho cộng đoàn giáo dân. Kể từ đây, các cô gái này sẽ dành thời giờ để cầu nguyện, và sẽ lo cho người nghèo trong giáo xứ. Các cô sẽ vào ở trong một “căn nhà nhỏ”, quà tặng của Bà D’Apremont, gần sông Madon và nhà Cha Sở.
Lại có một giấc chiêm bao khác tưởng chừng như chính Thiên Chúa gởi đến :
“Đó là một cái nôi cho trẻ con nằm ; chính giữa như có một cọng yến mạch mọc lên, với những nhành và hột của nó ; xung quanh có cái gì đó đỡ cho nó đứng. Cạnh bên nôi là một cái búa to bằng sắt, tự động đập vào cọng yến mạch mỗi khi cái nôi đưa qua đưa lại. Trong trí tôi chợt nghĩ rằng ơn gọi mà tôi sắp thể hiện sẽ phải chịu nhiều ngược đãi mà không tan rã, như cọng yến mạch cho hiểu vậy – vì nó tự thân là vật rất mong manh nhưng lại không thể bị cái búa kia làm giập nát hay bẻ gãy được-, và Chúa sẽ làm cho ơn gọi ấy được vững vàng kiên định.” ((§ 44)
“Tôi có cảm tưởng rằng đau khổ đưa người ta đến cùng Chúa một cách thần diệu hơn.”
“Tôi có cảm tưởng như mọi sự đều có thể làm được nếu Chúa muốn.”
Ngày 02 tháng 02 năm 1598,
Alix được cảm nghiệm những giờ phút tràn ngập ánh sáng, một lần “được Thiên Chúa viếng thăm”, in sâu vào ký ức của mình :
“Ngày áp lễ Đức Mẹ dâng Chúa vào Đền Thánh, một lễ mà tôi rất sùng mộ vì nghe nói đó là ngày sinh nhật và rửa tội của tôi, tôi dọn lòng để mừng ngày ấy cách trọng thể tối đa. Đức Mẹ đến với tôi, bồng con trên tay ; Mẹ trao Chúa Hài Đồng cho tôi và bảo tôi phải ‘nuôi cho Người lớn khôn’. Điều này phải hiểu là tôi ‘phải làm vinh danh Người’.” (§ 23)
Lúc ấy, Alix vừa khấn giữ đức khiết tịnh “mà không hỏi ý ai” …
Cô đã từ khước thiên chức làm mẹ, thì đây, Đức Mẹ trao Hài Nhi cho Cô. Thật là niềm vui đầy chất người của hai tâm hồn hiền mẫu gặp nhau.
Alix đón nhận Hài Nhi từ tay Đức Mẹ, ấy là để làm cho Người lớn lên nơi bản thân mình, là để cho Thiên Chúa làm Thiên Chúa nơi mình. Chẳng phải Thánh Gioan Tẩy Giả đã từng nói “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại …” đó sao ?
Trải qua bao thế kỷ, truyền thống Hội Dòng nhận ra trong thị kiến này của Mẹ Alix dấu chỉ ơn gọi riêng của mình, là sự nghiệp giáo dục. Đó là làm cho lớn lên, quan tâm đến sự sống, đến những gì làm nẩy sinh sự sống, những gì làm cho nó tăng trưởng …
Cha Pierre Fourier sẽ nói : “Các nữ tu sẽ dạy cho con gái biết sống và sống cho nên người”.
Cũng trong cùng thị kiến nội tâm ấy, Mẹ Alix được tình yêu Thiên Chúa chiếm trọn, cũng như nỗi khao khát truyền đạt những gì Mẹ biết về Người. Mẹ dấn thân sâu vào ơn gọi tông đồ của mình …
“Một lòng cảm thương bao la đối với các linh hồn … dâng hiến đời mình cho họ …” (§ 23)
Vậy các nữ tu trẻ này sẽ là những cô giáo dạy học, cần thiết biết mấy cho xã hội thời đó tại Mattaincourt và những nơi khác. Con gái cũng phải được giáo dục, được học chữ đễ biết đọc biết viết, biết làm toán cộng trừ nhân chia. Chúng nó sẽ học giáo lý, rồi cũng phải biết thêu may để sau này có thể kiếm chút tiền nuôi gia đình nữa. Thánh Pierre Fourier xác tín tầm quan trọng của người mẹ trong gia đình, vì là người phải biết nuôi dạy con và hỗ trợ chồng cách hữu hiệu.
Đầu hè năm 1598
Lớp học đầu tiên khai giảng tại POUSSAY
Cộng đoàn nhỏ bé được một bà quý tộc ở Poussay hỗ trợ, nhưng các nữ tu phải đi giặt đồ mướn để kiếm sống, bởi vì trường học là miễn phí.
Có những thiếu nữ khác xin Mẹ Alix được nhập đoàn với các bạn đầu tiên của Mẹ. Thế là những trường học khác được mở nhanh chóng. Mẹ vững vàng tin rằng Mẹ sẽ không bao giờ thiếu ơn lành của Chúa.
“Tôi luôn xúc động khi thấy nền tảng các dự định của chị em chúng tôi được đặt dưới ơn phù hộ của Đức Mẹ. Và tôi luôn luôn hết lòng tin cậy vào sự trợ giúp của Mẹ, cầu xin Chúa tất cả mọi ơn qua trung gian của Thánh Tử Mẹ cũng như của Mẹ.” (§ 18)
Mẹ Alix ngã bệnh nặng, nằm liệt giường. Mẹ vui mừng được gặp lại Cha Pierre Fourier vài ngày trước lễ Chúa Giáng Sinh. Ngày 09 tháng 01 năm 1622, Mẹ an nghỉ trong Chúa, tại Tu Viện Nancy, miệng thì thào :
“Ad te, Domine, clamavi in toto corde meo !
Con hết lòng kêu van, lạy Chúa !” (Tv 118,145)
Ước gì Thiên Chúa là mối tình trọn vẹn của chị em,
Hãy gìn giữ nhau trong tình hợp nhất trọn hảo.
Ngày nay, vẫn hãy còn có những nữ tu Dòng Đức Bà tiếp nối sứ mạng mà Thiên Chúa đã từng trao cho Alix Le Clerc :
“Được sai đi khắp thế giới, chúng ta ước muốn luôn sáng tạo, theo sức năng động của Mẹ Alix Le Clerc, để vạch ra những con đường mới.
Tất cả chúng ta đều tham gia vào sứ mạng này, dù ở tuổi nào, tình trạng sức khoẻ nào và với khả năng nào. Chúng ta cùng nhau nhận định cuộc sống theo ánh sáng Tin Mừng. Chúng ta sẽ khám phá ra sự hiển linh của Chúa Thánh Thần luôn chỉ dẫn những lựa chọn của chúng ta, để Tin Mừng được loan báo cho người nghèo khó.” (HC 6.)
Tranh vẽ: Hồng Nhung



















