Về Thánh Âu Tinh…

Thư của Sr. M.Alice Tihon

Cựu Tổng Quyền

(Noel 1982)

  1. “Trước hết, chúng ta hãy yêu mến Thiên Chúa và những người thân cận.”

Đây là một tiền đồ rộng thênh thang, hiếm thấy được phác họa với tư cách là tiền đồ trong một luật dòng. Thật vậy, đa số các luật dòng đều có một mục tiêu đặc biệt: săn sóc bệnh nhân, phục vụ người nghèo v.v… Nhưng ngay từ đầu, Thánh Âu-tinh đã đặt chúng ta vào trung tâm của Tin Mừng cứu độ: “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian, để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống… Anh em thân mến, nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau”. (1 Ga 4, 9.11).

Tính cách độc đáo này của luật Thánh Âu-tinh, tôi thấy như nó tạo ra một nghịch lý: đức ái là điều phổ cập nhất, mà lại lấy đức ái làm đặc điểm cho một nếp sống riêng biệt. Trong bài luận về 1 Ga 5, 3, Thánh Âu-tinh cũng sẽ nói: “Công việc chúng ta là khi làm việc này, khi làm việc nọ, tùy thời, tùy lúc, tùy ngày. Có phải nói hoài được đâu, hay làm thinh hoài? Tĩnh dưỡng luôn? Ăn chay hoài? Cứ phải cho kẻ đói ăn, cho kẻ rách mặc? Luôn luôn đi thăm bệnh? Luôn luôn giải hòa? Luôn chôn xác kẻ chết? Lúc việc này, lúc việc nọ. Những việc làm này có hồi đầu hồi kết, nhưng nguyên lý chỉ huy các việc làm thì không có thủy cũng không được có chung. Ước gì công việc bác ái thì có giờ có giấc, nhưng đức ái bên trong thì không dứt không ngơi.”

Tiền đồ này thật phóng khoáng, và cái nhìn rộng rãi.

Một điểm đáng ghi nữa là sự biến chuyển trong tư tưởng của Thánh Âu-tinh về câu Cv 4,32. Câu đã gợi hứng cho phần đầu luật dòng: “Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung.” Đoạn này, Thánh Âu-tinh cho là chính yếu vì ngài trích dẫn nó đến 53 lần!

Thánh Âu-tinh là một người đã được Chúa Ki-tô nắm lấy (“Chúa đã dùng Ngôi Lời của Chúa mà đánh động con, và con đã yêu Chúa” – Tự Thú 10.6.8). Từ lúc ấy trở đi, ngài cứ để tâm vào tình hiệp thông mà ngài biết là Chúa Ki-tô đã mặc khải cho và khả dĩ thể hiện được; và mối bận tâm đó hướng dẫn toàn bộ nếp sống của ngài: “Chúng ta hãy trở thành điều chúng ta đã làm thành, tức là Thân Thể Chúa Ki-tô”.

  1. “Một lòng một ý”

Khi mới vừa làm linh mục, Thánh Âu-tinh đặt trọng tâm câu “một lòng một ý” vào việc thống nhất nội tâm. Lúc bấy giờ, ngài nhấn mạnh đoạn văn nói về khắc khổ nhiều nhất: “Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng nữa”.

Tiếp đến, sau khi lên giám mục, câu “một lòng một ý” mang một ý nghĩa tập thể hơn trong tư tưởng của ngài: nó chỉ tình hiệp nhất và hòa thuận giữa người với người. Chiều kích huynh đệ trở thành quan trọng hơn là lý tưởng khổ hạnh.

Sau cùng, càng lớn tuổi, Thánh Âu-tinh càng nói lên chiều kích Giáo Hội mà ngài rất quý chuộng. Năm 426, lúc thành lập cộng đoàn thứ hai tại Híp-pon, ngài lại dùng câu Cv 4,32, nhưng cho nó theo sau câu 4,31: “Hết thảy đều được tràn đầy Chúa Thánh Thần và can đảm rao giảng Lời Chúa.” Đây không còn là một đời sống khó nghèo tự nguyện trong một nếp sống huynh đệ Ki-tô giáo mà thôi nữa, nhưng bây giờ phải rao giảng Lời Chúa, làm chứng về sự sống lại của Chúa Giê-su. “Các vị khổ tu đã trở thành anh em với nhau, và các anh em đồng thời cũng là những giáo sĩ, và cuộc sống của các giáo sĩ này có một chiều kích truyền giáo, tông đồ, chuyên nghiệp.” Sự đồng tâm nhất trí của họ, từ nay, có một mục tiêu xã hội: họ ở chung với nhau để sống đậm đà tình hiệp nhất, là mối tình của cả Giáo Hội. Giáo Hội được Thánh Thần của Đức Giê-su chiếm ngự, chỉ có một lẽ sống, là toàn thể nhân loại, và tiền đồ mà Giáo Hội phải đi suốt là đưa nhân loại từ cái đa dạng đến sự hiệp nhất của Chúa Phục Sinh.

Như vậy, đối với Thánh Âu-tinh, đời tu là lối sống cụ thể nói lên sự hiệp nhất của Giáo Hội, một Giáo Hội phục vụ cho sự hiệp nhất của nhân loại. Đời tu là một dấu chỉ nhắc nhở mỗi người tín hữu phải sống ơn hiệp thông một cách cụ thể.

Tuy nhiên, đời tu này có một vai trò rất đặc biệt trong Giáo Hội. Thánh Âu-tinh coi các tu sĩ như những “nguyên lý làm cho Giáo Hội được khỏe mạnh.” Như Thánh Phao-lô, ngài nhắm tới sự bổ sung cho nhau, tình liên đới giữa các chi thể của Đức Ki-tô; tầm quan trọng của sức khỏe toàn bộ đi trước chức năng cá biệt của mỗi thành phần. Dù vậy, sức khỏe đó chỉ có được nếu mỗi thành phần hoạt động tốt.

Vậy cách thức sống tôn chỉ “một lòng một ý hướng về Thiên Chúa” của các tu sĩ – và đó là lý do tại sao họ tập họp lại với nhau – là phần đóng góp quan trọng vào “sức khỏe” của Giáo Hội, vào việc chu toàn thiên chức của Giáo Hội, là tình huynh đệ trong Đức Giê-su, cho toàn thể nhân loại được hưởng nhờ.

Sứ mạng của chúng ta, mối bận tâm của chúng ta để làm cho triều đại Chúa đến, và tình huynh đệ chúng ta sống trong cộng đoàn, cả ba đều do một động lực thúc đẩy. Điều này đã được xác định trong Hiến Chương 1978: “Tập họp thành một Hội Dòng để thể hiện sứ mạng, chúng ta đã cố gắng sống ngay từ bây giờ niềm hiệp thông Ki-tô giáo trong hiệp nhất và bác ái, theo tinh thần của Thánh Âu-tinh. Cuộc sống trong tình chị em giữa chúng ta là phần chính yếu trong sứ vụ của mình.” (số 16 – 17 ). Làm như vậy, chúng ta tự đặt mình vào trong hàng ngũ chính tông của các vị kinh sĩ. Đường lối hành động của kinh sĩ, khác với đường lối đan sĩ, là muốn sáng tạo một thế giới mới, và để làm điều đó, phải đi vào và hoạt động trong thế giới đang có, bất kể thế giới đó ra sao. “Có thể nói là các kinh sĩ… đi từ những dữ kiện thực tế, không đòi hỏi nó như thế nào trước, nhưng dấn thân vào trong đó. Dấn thân như thế là đầu phục cái không thể tránh được, đồng thời cũng là mong muốn biến đổi nó.”

Đây là một triển vọng rộng lớn. Chính theo hướng đó mà chúng ta phải quan niệm tình liên đới mà Hội Dòng đòi hỏi nơi mỗi thành viên. Và vì triển vọng rộng lớn, nên các mối liên đới của chúng ta rất nhiều.

  1. Một vài khía cạnh của tình liên đới mà chị em trong Dòng đang sống.

Chúng ta dấn thân vào nhiều môi trường, chúng ta sống nhiều nếp sống: đó là một thực tại khá rõ nét trong Dòng. Đó là một nguy cơ và là một thách đố. Sống khép kín trong thế giới riêng của mình, để cho mọc lên những bức tường ngăn cách giữa chị em – bức tường mà Chúa Ki-tô đã đến cốt để phá đổ – là điều dễ làm hơn nhiều. Nhưng làm sao tin rằng Thiên Chúa yêu tôi, nếu trong thực tế, chị em không coi tôi ra gì! Không ai có thể giải quyết vấn đề một mình cả. Cần có sự hiện diện của người khác. Chính sự hiện diện này, sự cởi mở tâm hồn, mới làm cho chúng ta yêu đời. Tự do của chúng ta chỉ có đất dụng võ ở những nơi có tinh thần yêu thương.

Chúng ta sáng tạo được thứ liên đới nào để cho sự tương trợ là điều thiết thực? Chúng ta có cách nào để tỏ ra chúng ta để ý đến chị em? Để tỏ ra chúng ta đón nhận chị kia chị nọ, với hoàn cảnh, ngôn ngữ, phản ứng khác biệt của riêng chị?

Tình liên đới đó, dệt bằng những trao đổi, những câu hỏi cũng như những câu đáp, những lựa chọn khác nhau nhưng không đơn độc, là chuyện của mọi chị em chứ không phải của một vài chị phụ trách.

Liên đới trong đa dạng, và cũng liên đới trong ý thức về bộ mặt của Hội Dòng hiện nay như thế nào.

Tình liên đới giữa chúng ta, dệt bằng những trao đổi, qua lại, giúp đỡ, sáng tạo, là “nguyên lý làm cho Giáo Hội được khỏe mạnh.” Đức Phao-lô VI đã chẳng nói “Giáo Hội biến thành đối thoại” đó sao? (Giáo Hội, số 67). Nếu cần có một câu khai mào để gợi các câu kế tiếp, câu khai mào ấy phải được mỗi một Ki-tô hữu nói lên. Vậy cách lối “đối thoại” của chúng ta giữa chị em trong Dòng không phải vô thưởng vô phạt đối với đời sống của cả Giáo Hội.

Sau hết, trong một thế giới có những dị biệt đi đến sự loại trừ nhau hoặc việc xé lẻ thành nhiều phe nhóm, giữa một xã hội trong đó có biết bao người cô đơn, tình liên đới của những nữ tu thuộc cùng một Hội Dòng có thể đầy ý nghĩa. Mặc dù có những điểm bất đồng, nếu tình hiệp thông giữa chúng ta vẫn mạnh hơn, thì ước mơ đến một tình huynh đệ trong đa dạng không còn là điều hão huyền nữa.

Khi lắng nghe Thánh Âu-tinh, chúng ta thấy rằng đời sống huynh đệ của chúng ta nói lên một thực tại được ban cho ta trong Chúa Ki-tô, đã hiện diện trong Giáo Hội, và có ý nghĩa cho nhân loại đang hướng về tương lai.

Vậy đời sống huynh đệ đó không khép kín thu mình lại chút nào. Ngược lại, chính vì nó rộng mở cho cái hơn mình, chính vì nó nằm trong chiều hướng của sứ mạng Hội Dòng chúng ta, mà nó có thể và phải là cường tráng. Sức cường tráng này, ta phải biểu lộ nó ra trong cụ thể, giữa chị em với nhau. Chính từ lòng xác tín và trí tưởng tượng của mỗi một chị em, bất cứ ở đâu, làm việc gì, già trẻ thế nào, mà sức cường tráng ấy bắt nguồn.