“Nếu chị nhận ra ân sủng Thiên Chúa ban…” (Ga 4,10)

Tháng ba năm 2009, để bắt đầu khóa họp Hội Đồng Trung Ương Nới rộng, chúng tôi đã cùng với chị Frédérique Oltra, nữ tu dòng Cát-minh Tông đồ thánh Giuse đọc lại câu truyện người phụ nữ Samari trong Tin Mừng Gioan chương 4, 5-42.

Chị Frédérique đã  trình bày hình ảnh người phụ nữ Samari như là:

– Nhân chứng, là « môn đệ khôn ngoan đón tiếp Lời và là môn đệ của Lời », biết « lắng nghe và biện biệt tiếng Chúa nói trong Sách Thánh » ; biết « nhận ra tiếng nói tỏ bày trong những cuộc gặp gỡ và những biến cố trải dài suốt dòng lịch sử ».

– Nhân chứng của Đấng « trao ban tự do », biết « lưu lại bên cạnh Chúa Giêsu », nhưng cũng biết « tức tốc lên đường, không chờ đợi sai phái,  để truyền rao Tin Mừng cho người thân cận, để rồi đến lượt những người này cũng ra đi loan báo Tin Vui đã gặp được Đấng Cứu độ thế gian ».

– Nhân chứng của « Đấng ban tặng sự sống mới », vì « từ kinh nghiệm riêng của chị là người được Chúa Giêsu giúp khám phá chính bản thân, được Chúa Giêsu cảm thương chấp nhận », chị đã biết « làm cho cả một đám đông anh chị em cũng đón nhận ân sủng sự sống ».

Cuối phần trình bày, chị Frédérique cũng gợi ý giúp chúng tôi chia sẻ, dựa trên câu hỏi « Chúng ta làm thế nào để bắt đầu, để làm cho Truyền thống, Nền tảng, công cuộc Huấn luyện được sống động trong thời kỳ khủng hoảng, đầy dao động như ngày nay ? ». Đây là câu hỏi mời gọi chúng tôi :

– « Xác định lại điều gì trong truyền thống Dòng Đức Bà đã tạo thuận lợi cho mối tương quan đón tiếp thật sự cởi mở »,

– « Làm cho cuộc đấu tranh giành công lý và vì tình liên đới bén rễ sâu trong việc nỗ lực lắng nghe Lời Chúa rồi cùng nhau phân định trong sứ vụ », bởi vì « cùng nhau lắng nghe và sống Lời Chúa để thi hành sứ vụ bao hàm kinh nghiệm mỗi cá nhân biết thay đổi chính mình, và trong cùng một chuyển động đó, biết dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa, sống vì thế gian và với thế gian »,

– « Học biết sống giữa thế gian ».

Sau phần trình bày của chị Frédérique, điều vang vọng trong tôi nhiều nhất, đó là hạn từ Tương quan. Thật vậy, « lúc khởi đầu LÀ TƯƠNG QUAN ». Tương quan là ân sủng của Thiên Chúa. Tương quan là chính Thiên Chúa ! Cụm từ được dùng để bắt đầu sách Sáng thế (tiếng Hip-ri là Bơ-rê-sit) cũng như Tin Mừng thứ tư (en ac-khê trong ngôn ngữ Hy-lạp) là cụm từ gây ấn tượng khá sâu sắc trong tôi mỗi lần suy niệm về công trình sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa :

« Lúc khởi đầu… Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình… sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa… Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.
Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất ». Nhưng bất hạnh thay, chỉ vì lòng ham muốn mà con người đã đánh mất ân sủng Thiên Chúa. Mối tương quan vì thế bị gãy đổ, hư hoại. Để tái lập mối tương quan thuở ban đầu,Thiên Chúa đã không ngần ngại khởi sự lại, với tất cả tình yêu và lòng trung tín bền vững của Người. Một lần, hai lần, cho đến « lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời… và Ngôi Lời là Thiên Chúa… Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta… »

Cụm từ « lúc khởi đầu » trong tiếng Hip-ri và Hy-lạp đã nhắc lại cho tôi thêm lần nữa sự hiện diện của một Thiên Chúa Nhập Thể ở giữa chúng ta để làm cho mối Tương quan muôn thuở mãi mãi bền vững, cho dù nhân gian có mỏng giòn yếu đuối đến đâu và muốn phá bỏ thế nào. Chúa Giêsu đã chẳng nói với người phụ nữ Samari « Nếu chị nhận ra ân sủng Thiên Chúa ban… » đó sao ? (Ga 4,10).

Người ta thường bảo Tin Mừng thứ tư không như các Tin Mừng khác vì ít kể lại các phép lạ. Nhưng tôi lại nhận thấy tác giả TM thứ tư rất nhạy bén trước sự biến đổi của những người nào được tiếp xúc với Chúa Giêsu, và trước những chuyển biến trong các mối tương quan ; chính vì thế tác giả thường hay kể lại các diễn từ và những cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu nhiều hơn là các phép lạ chữa lành bệnh nhân. Tác giả TM đã cố tìm cách tránh nói đến tính cách siêu nhiên, để giúp độc giả tiếp cận thâm sâu bản tính Thiên Chúa nơi chính con người Giêsu. Chính sự hiện diện thần thiêng này đã làm cho công trình cứu độ được thành sự : Chúa Giêsu gặp gỡ người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacop và rồi sau đó toàn thể cư dân trong ngôi làng này cũng được biến đổi hoàn toàn !

Trình thuật về cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu với người phụ nữ Samari đã nhắc nhở tôi thật sâu đậm về Ân sủng Tương quan, mối tương quan soi rọi cuộc đời, mối tương quan làm cho người ta nhận ra chân tướng của mình, mối tương quan lượng thứ và làm biến đổi mọi sự. Chính từ mối tương quan này mà chúng ta được sai đi thi hành sứ vụ.

Chúng ta thử quan sát bối cảnh cuộc gặp gỡ này : sau khi rong ruỗi những nẻo đường trần thế, Chúa Giêsu « mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa ».

Tác giả TM cho biết đó là mười hai giờ trưa ! Giờ ngọ, thật là lạ ! Mười hai giờ trưa, giờ bác mặt trời ngự trị chói lọi nóng bức ngay trên đỉnh đầu, không ai có thể thấy được bóng mình ngã dài như các giờ khác. Đó cũng là giờ mặc khải trọn vẹn, giờ Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá, giờ bừng lên ánh sáng huy hoàng, giờ tỏ bày chân lý. Mọi sự được phơi bày trước mắt mọi người trong giờ khắc tràn đầy ánh sáng này.

Sự kiện diễn ra bên bờ giếng.

Giếng nước, đây là hình ảnh đầy biểu tượng. Đó không chỉ là giếng nước ông Giacop đã để lại cho con cháu It-ra-en, nhưng sâu xa hơn, đó còn là giếng nước ân sủng mà chính Chúa Giêsu trao tặng : giếng nước trở thành nguồn suối không hề vơi cạn, và người phụ nữ Samari không còn cần phải mang vò đến kín múc nữa, vì trình thuật cho biết bà đã « để vò nước lại », chạy ngay vào thành báo tin vui, bởi vì bà khám phá ra chính Chúa Giêsu là nguồn nước sự sống hằng tuôn trào, tràn lan, mang lại sức sống dồi dào.

Tác giả TM thuật lại câu truyện này qua ba bước và giúp tôi hiểu được diễn tiến thiết lập Tương quan giữa Chúa Giêsu với người phụ nữ, cũng như cách Chúa Giêsu đã biến đổi cư dân trong làng.

– Chúa Giêsu trước những rào chắn trong xã hội

Người phụ nữ đơn độc ra giếng nước Giacop vào mười hai giờ trưa : yếu tố thật lạ. Tôi tự hỏi đó có phải là giờ thông thường để người ta đi kín nước ? Vả lại, giếng nước là nơi người ta hay kéo nhau đến, gặp gỡ nhau, kể lể chuyện trò, hứa hẹn với nhau. Giếng nước chính là điểm hội ngộ, nơi giao lưu. Các phụ nữ thường sắp xếp đến điểm hẹn cùng lúc với nhau. Vậy thì tại sao người phụ nữ này lại tránh né đồng bạn của mình ? Phải chăng bà bị dân làng gạt ra bên lề ? Hay chính bà muốn tránh né mọi người nên đi kín nước một  mình như vậy vào giữa trưa nắng gắt ? Còn có hai rào chắn khác trong bản văn : người Do-thái không hề chung đụng với người Samari, và các môn đệ ngạc nhiên khi thấy Chúa Giêsu đang trò chuyện với một người phụ nữ.

Mọi tình tiết câu truyện cho thấy cuộc gặp gỡ này không được phép xảy ra, bởi vì trái với những tập tục luật lệ xã hội, nhưng Chúa Giêsu thì lại chẳng màng gì đến những rào chắn ấy. Người vẫn thản nhiên trao đổi với người phụ nữ thuộc làng Samari ngoại tộc, đơn độc, có thể bị dân làng mình gạt ra bên lề. Cuộc đối thoại bắt đầu bằng một câu hỏi của Chúa Giêsu : một câu hỏi mang lại cho người phụ nữ một vị thế bình đẳng, thậm chí còn cao hơn vị thế của Chúa Giêsu. Người lên tiếng hỏi xin nước uống, nghĩa là để mình tùy thuộc vào thiện chí của người phụ nữ muốn cho hay không. Nhưng người phụ nữ này nghi ngờ ý hướng tốt lành ấy, bà không thể tin được có người Do-thái nào lại chịu đi xin nước như vậy. Rồi khi Chúa Giêsu lên tiếng cho bà biết là Người có thể ban tặng cho bà nhiều hơn, tốt hơn cả tổ phụ Giacop, ban tặng cho bà nguồn nước sự sống vượt xa giếng nước nhỏ bé kia, thì bà lại còn ngờ vực hơn nữa « Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ Giacop sao ? »

– Chúa Giêsu trước những rào chắn nội tâm

Câu truyện cho thấy Chúa Giêsu từ từ chạm nhẹ vào những rào chắn tự vệ của người phụ nữ, chạm vào những nỗi tủi nhục mà chính bà cũng đang dày vò bản thân bằng cách nhỏ nhẹ bảo « Hãy về gọi chồng chị rồi trở lại đây ! ». Làm thế nào Chúa Giêsu lại có được trực giác tinh tế ấy ? Bản văn không nói gì về điểm này, chỉ cho biết là Chúa Giêsu đã đặt câu hỏi đúng lúc, và trúng ngay tim đen người đối diện. Quả là đời sống hôn nhân của người phụ nữ Samari có vấn đề, nên bà cảm thấy tủi nhục, không xứng đáng, khiến bà không dám hòa mình vào đám đông các phụ nữ khác, hoặc bà đã cảm nhận những cái nhìn xỉa xói, bình phẩm làm tổn thương khiến bà phải tách biệt cô lập mình. Chúa Giêsu chỉ thấy đơn giản là cần phải giúp bà đối diện với sự thật, Người không dùng lời xét đoán chỉ trích, chỉ gợi ý để bà nói lên sự thật. Chúa Giêsu đã tiếp nhận chứ không lên án bà. Chúa Giêsu đã khiến cho người phụ nữ Samari không còn  phải sợ hãi, không còn mặc cảm, không còn ngờ vực gì nữa. Và bà cũng không còn nhìn Chúa Giêsu như một người Do-thái đáng ghét nữa. Lúc bấy giờ bà đã có thể nhận ra Chúa Giêsu là người được Thiên Chúa sai đến giữa thế gian.

Thật vậy, « đã đến giờ… », giờ gặp gỡ làm cho người phụ nữ Samari thay đổi tận căn tận gốc. Bà đã được Thiên Chúa trong Đức Giêsu đụng chạm,  bà cảm nhận sự hiện diện huyền nhiệm của Thiên Chúa vào chính lúc Chúa Giêsu bảo bà « Hãy về gọi chồng chị rồi trở lại đây ! ». Không một lời kết án ! Vì thế, người phụ nữ này sẽ làm chứng cho mọi người biết rằng Thiên Chúa hiện diện nơi Chúa Giêsu « Ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm ». Thật vậy, mọi sự đã được phơi bày trước mắt, không che đậy, không giấu giếm, cũng không hề có một phán xét nào ! Người phụ nữ đã có thể hòa giải được với chính mình, chấp nhận được thân phận yếu hèn của mình, và điều này đã khiến bà bắt đầu tin khi thốt lên « có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ? ». Người phụ nữ được biến đổi đã làm chứng về tất cả mọi sự. Lòng tin của bà tăng đần lên theo cách bà diễn tả trong từ ngữ : nếu ban đầu bà nói với Chúa Giêsu « Ông là người Do-thái », sau đó là « Chúa », rồi « ngôn sứ », thì cuối cùng bà cũng xác định rõ ràng Chúa Giêsu là « Đấng Kitô », Đấng Mê-si-a. Trong khi đó, các môn đệ vẫn chỉ thân thưa một từ ngữ duy nhất « rap-bi » ! Một cuộc biến đổi thật lạ lùng !

– Hạnh phúc lan tỏa truyền rao

Sau khi khám phá Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu, và khám phá chính mình, người phụ nữ Samari đã tức tốc quay trở về làng, kể lại với mọi người kinh nghiệm được tiếp cận với chính Chúa « Ông ấy đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm ». Mọi người phải biết đến ông ấy ! Có lẽ bà cũng cảm thấy xấu hổ về thân phận mình, và dân làng có lẽ cũng muốn thấy bà phải hổ ngươi bẻ mặt. Nhưng không đâu, không nhục nhã gì nữa, chủ đề bàn cãi lúc ấy không còn là cuộc đời đáng khinh bỉ của người phụ nữ, nhưng là sự kiện Chúa Giêsu đã thấu hiểu bà, chấp nhận yếu hèn của bà chứ không phán xét hay loại trừ gì cả. Dân làng hẳn đã đón tiếp bà trở lại với cộng đồng, cho bà hội nhập lại với tư cách là thành viên, trao đổi để biết thêm về con người mang bản tính thần thiêng đó. Rồi « khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày ».

Tôi thật sự tò mò muốn biết xem Chúa Giêsu đã trao đổi gì với dân làng Samari trong « hai ngày » đó, vì Tin Mừng không nói gì nhiều hơn. Bản văn chỉ cho thấy Chúa Giêsu « ở lại với họ », để rồi sau đó toàn thể dân làng cũng sống cùng một kinh nghiệm được biến đổi, bước trên cùng nẻo đường tin kính như người phụ nữ Samari. Không còn là những lời đồn đại xa gần nữa mà bây giờ là niềm xác tín. « Không còn tin chỉ vì lời người phụ nữ kể nữa mà là vì « đã nghe và biết » chính Chúa Giêsu, Đấng ở lại với họ hai ngày liền : « Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian ». Thế là Tương quan đã được thiết lập !

Tương quan bắt đầu bằng một cuộc gặp gỡ, giữa hai người xa lạ. Ba chướng ngại trong cuộc gặp gỡ này : đàn ông không được nói chuyện với đàn bà – người Do-thái không được giao du với người Samari – nhất là giao du với hạng người không đứng đắn. Tuy nhiên, khi mà mọi sự dường như bất khả thi thì lại trở nên dễ dàng thực hiện. Thật kỳ lạ ở chỗ đã có nhiều thứ cản trở, nhưng cuộc gặp gỡ lại cứ diễn ra và kết cuộc tốt đẹp. Tương quan là thế, và rồi các mối tương quan được nhân lên, phong phú hơn. Không còn phân biệt kẻ giàu người nghèo, Do-thái hay Hy-lạp, đàn ông hay đàn bà, người lớn hay kẻ nhỏ, cao trọng hay bần hèn. Cũng chẳng còn thế lực hay quyền bính gì ! Bạo lực trong lời nói cũng không ! Mọi sự chuyển biến từ cái không thể sang có thể, từ điều cấm nói sang điều nên truyền rao. Ngôn từ giao lưu, mọi vấn đề được giải quyết thỏa đáng.

Thiên Chúa là « Lời mặc mấy xác phàm » ở giữa nhân loại lầm than. Thiên Chúa làm người để ở thật gần con người, trở nên người thân cận của con người, và trao tặng cho con người cơ may hiện hữu đích thực khi lên tiếng nài xin con người. Hỏi xin nghĩa là tạo cơ hội cho người khác cho đi. Trong tất cả Tin Mừng, Chúa Giêsu hành động với quyền uy Thiên Chúa, và hành động quyền uy đó nhằm làm cho con người lớn lên, trao cho con người một quyền lực, một vị thế, xứng đáng với phẩm giá làm người. Một mặt, Chúa Giêsu Kitô thay lòng đổi dạ con người khi gặp gỡ họ, mặt khác, con người khi gặp gỡ Chúa Giêsu mà sẵn sàng trao trọn con tim và cả cuộc đời cho Người, sẵn sàng tiếp đón chấp nhận hoạt động cứu rỗi của Người thì lúc bấy giờ Chúa Giêsu sẽ biến đổi tâm hồn, biến đổi cuộc đời người ta. Thiên Chúa hiện diện trong xác phàm của Chúa Giêsu quả thật là nguồn suối tuôn trào, thanh tẩy đổi mới cuộc sống nhân loại chúng ta. Và còn hơn thế nữa, đó là Ân sủng Thiên Chúa ban : ân sủng sự sống phát xuất từ chính Chúa, là nguồn nước không bao giờ vơi cạn. Ân sủng giúp người ta nhận thức ý nghĩa và định hướng lại cuộc đời. Đó cũng là cách Chúa chuẩn bị con người thi hành sứ vụ, rao giảng Tin Mừng, chia sẻ niềm vui hy vọng. Đó cũng là mùa gặt mà tác giả Tin Mừng nói đến.

Đọc lại câu truyện trong Tin Mừng này, tôi tự nhủ sẽ không để cho bất cứ thứ rào chắn xã hội, văn hóa, tôn giáo, hay rào chắn nội tâm nào dấy lên cản trở mọi nỗ lực cố gắng hằng ngày. Tôi ước muốn để cho Thiên Chúa dẫn dắt tôi đi rao truyền Lời của Người. Tôi quyết tâm học lấy « phong cách của Chúa Giêsu » để sống các tương quan huynh đệ, sứ vụ, truyền giáo…

Xét về từ nguyên thì hạn từ « tương quan » có gốc la-tinh là « relatio », có nghĩa là một câu truyện, một trình thuật, một chứng từ, từ đó dẫn đến nghĩa một mối liên kết, một tương quan, một sự phụ thuộc liên vị. Tôi chợt thấy rất thú vị khi ngẫm nghĩ đến tất cả các ý nghĩa trên đây hòa nhập lại trong phần trình bày cũng như ngay trong tựa sách « Tự thuật » của Mẹ Alix. Chị Paule-Sagot có lẽ cũng đã ghi nhận như vậy khi viết « đó là một câu truyện kể trong đó có vai trò của ký ức hồi tưởng… câu truyện về một kinh nghiệm sống động… câu truyện viết lại chính xác cho một người đọc, đó là cha giải tội », tuy nhiên trên hết mọi sự, câu truyện này viết « trước nhan Thiên Chúa », cho Thiên Chúa, vì thế Mẹ Alix khao khát « sống thật với chính mình và với Thiên Chúa » (tài liệu màu xanh, tr. 31).

Tôi đã đọc lại « Tự thuật » của Mẹ Alix, người phụ nữ Samari hôm nay, theo thiển ý của tôi. Mà quả thật chính Mẹ Alix đã được Lời Chúa chiếm hữu, chính Mẹ đã cởi bỏ hết mọi thứ xa hoa quyền quý, đã khước từ mọi phù phiếm chóng qua, và đã quyết định « làm tất cả mọi sự gì đẹp lòng Chúa nhất, cho dù phải chết ». Trước đó, Mẹ bịt tai chẳng thèm nghe gì ngoài những phù phiếm giả tạo, và « tâm hồn Mẹ chìm trong tối tăm », nhưng một khi Mẹ đã được « Chúa đến thăm viếng » thì « mắt Mẹ liền mở ra », thế là « công trình của Thiên Chúa nảy sinh và phát triển » : ngôi trường làn nhỏ bé đầu tiên ở Poussay, và Hội Dòng Đức Bà suốt bốn trăm năm lịch sử… Cuối cùng, quyển « Tự thuật » của Mẹ Alix đã được chuyển lại cho chị em Dòng Đức Bà. Vì sao ? Nếu không phải để minh chứng và mời gọi chúng ta tiếp tục làm chứng cho « Ân sủng Tương quan », cũng là ân sủng Biến đổi và ân sủng thi hành Sứ vụ ?

Tôi xin mượn lời của chị Frédérique để kết thúc bài chia sẻ này :

« Trong cuộc chiêm ngắm này, chúng ta đón nhận thiện chí thật lớn lao để yêu mến và tiếp tuc đời sống huynh đệ đầy thách đố, chúng ta tìm thấy sức bật cần thiết để dấn thân với tất cả nhiệt huyết năng động của mình trong sứ vụ được giao phó. Chúng ta không tìm đâu ra một chỗ nào khác, một phương tiện nào khác ngoài việc không ngừng trở về nguồn cội đã làm cho chúng ta được sống.

Và như người phụ nữ Samari, chúng ta được sai đi sống mối tương quan với anh chị em của chúng ta trong nhân loại này, đồng thời tiếp nhận dòng chảy, những biến cố bất ngờ, để gặp gỡ Chúa Kitô là Nguồn sống, Người ẩn khuất cách rõ rệt trong các mối dây liên kết nhân loại chúng ta.

Như người phụ nữ Samari đã bắt đầu lại cuộc hành trình, chúng ta cũng hãy luôn cố gắng bắt đầu lại mỗi ngày : lưu lại trong dòng chảy cuồn cuộn của Nguồn sống và, trong sự thuận thảo tự do yêu mến, chúng ta hãy để cho mình được cuốn phăng đi, từng ngày…»

Vâng, tôi sẽ bắt đầu lại từng ngày, và chúng ta cùng nhau bắt đầu lại,

nhờ « bước khởi đầu » của nhân loại : mối Tương quan với Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo và Đấng Cứu Độ chúng ta »,

nhờ « bước khởi đầu » của Hội Dòng : mối Tương quan của Chân phước Alix Le Clerc với Thiên Chúa, mối tương quan mà người Chị Cả của chúng ta đã sống và hằng nguyện ước sao cho « Thiên Chúa là trọn mối tình của chúng ta » luôn mãi, để chúng ta có thể dấn thân sống sứ vụ giáo dục của Hội Dòng.

Lê Thị Thanh Nga, CND