LINH ĐẠO CHA PIERRE FOURIER

Thánh Pierre Fourier vị tông đồ của Đức Giêsu Kitô

          Thánh Pierre Fourier đã hiến thân trọn vẹn cho thừa tác vụ mục vụ, đòi hỏi lao tác xả thân khắp nơi, sứ điệp và đời sống của ngài chỉ làm một mà thôi.

          Để nói tắt một lời điểm thống nhất mọi sự nơi ngài, ta có thể nói rằng Thánh Pierre Fourrier, cũng như thánh Phaolô mà ngài luôn quy chiếu, trước tiên hết là vị tông đồ, vị Tông đồ của Đức Giêsu Kitô.

Đức Kitô mà ngài loan báo

Đó là Đức Kitô Cứu Thế. Đối với Thánh Pierre Fourier, danh từ “Cứu Thế” bao giờ cũng kết hợp với tên Giêsu.  Dường như có một ý thức rất nhạy bén về Tin Mừng Cứu rỗi ở trung tâm kinh nghiệm của Ngài về Thiên Chúa. “Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Ngài đã cho chúng ta cùng sống với Đức Kitô” (Ep 2,4-5). Đức Kitô mạc khải tình yêu và lòng thương xót của Chúa Cha cho thế giới. Thánh Pierre Fourier liên lỉ trở lại sứ vụ ấy của Đức Kitô, sứ vụ hòa làm một với chính bản vị ngôi Con Thiên Chúa..” ..đức khiêm nhu rất sâu thẳm và sự cao cả rất nhân từ của Đức Giêsu Kitô Đấng Cứu chuộc chúng ta (thư ngày 29-9- 1639). Một câu cần so với câu của thánh Âu tinh: “để hiểu biết sự cao cả của Thiên Chúa, trước tiên hết phải biết sự khiêm hạ của Ngài.”

Loan báo Thiên Chúa đầy lòng thương xót, đó là tất cả cuộc đời của “Cha lành” họ đạo Mattaincourt. Ngài nhắc lại với hai Hội Dòng của ngài liên kết sứ vụ ấy với sứ vụ của các tông đồ, rằng đó là sứ vụ của hai Hội Dòng ấy. Ngài viết cho các nữ tu Dòng Đức Bà (thư ngày 7-7-1630)” “Chị em sống cuộc sống của các tông đồ…” và với các kinh sĩ mà ngài cải cách, ngài yêu cầu chia sẻ đặc biệt thừa tác vụ ấy của Đức Kitô, bằng cách đặt tên Dòng “ Chúa cứu chuộc chúng ta” – và ngài nhấn mạnh trên “chúng ta”.

Nét đặc thù của Ngài

Nét nhấn đó là tình thương, lòng triều mến, âu yếm (từ ngữ mà Bendel, người đầu tiên viết tiểu sử Thánh P. Fourier đã dùng) mà thánh P. Fourier ôm ấp đối với nhân tính của Ngôi con Thiên Chúa, “Đức Giêsu thành Nagiaret, con một Chúa Cha,

con Đức Trinh Nữ Maria.”[1] Đức Giêsu gần gũi với loài người, chia sẻ các lo âu, vui

mừng và đau khổ của họ, ẵm nhận trọn vẹn thân phận làm người, từ khi sinh ra cho đến lúc chết, Bendel còn nói rằng ngài sùng kính đặc biệt các mầu nhiệm giáng sinh và Tử nạn của Chúa Giêsu.

“Tất cả ưu tư của chị em là theo gót Chúa Giêsu… lúc ngài còn sống dưới thế này”. Câu hiến chương 1640 đó căn bản đối với chúng ta. Cách chúng ta theo gót Chúa Kitô và sống ơn gọi tông đồ đâm rễ trong tính thực tế đó của Mầu nhiệm Nhập thể (xem hiến chương 1640 trang 23 và hiến chương 1984).

Mẹ Maria, đấng giúp cho Ngôi Con mặc lấy nhân tính

Đặt trọng tâm nơi con người Chúa Kitô, lòng sùng kính (theo nghĩa mạnh của danh từ ấy) đối với Mẹ Maria nơi Thánh Pierre Fourier có căn bản thần học sâu xa. Là mẹ Đức Giêsu, Mẹ Maria đi vào sứ vụ cứu thế của Ngài. “Mẹ dịu hiền và lân ái”, Mẹ luôn luôn hiện diện trong lịch sử cứu độ. Thánh Pierre Fourier không nhấn mạnh một mầu nhiệm nào riêng biệt của cuộc đời Đức Bà, “Ngài phán bảo gì, cứ làm theo”: Tầm quan trọng gán cho lời ấy của Mẹ Maria, chiếu sáng tất cả linh đạo của Hội dòng. Mẹ Maria, bao giờ cũng hướng chúng ta về con của Mẹ, Mẹ chuẩn bị chúng ta lắng nghe Lời Chúa, bước theo Chúa Giêsu trong cuộc sống tông đồ của Chúa, rao giảng Lời Chúa, chuẩn bị chúng ta đi vào Mầu nhiệm chết và phục sinh của Ngài (Ga 2,5; 19,26).

Thánh Pierre Fourier, chứng nhân Tin Mừng

Một số bản văn Tân Ước rất thường được thánh Pierre Fourier lấy lại. Các bản văn ấy cho chúng ta biết những đoạn Tin Mừng nào ngài đặc biệt yêu thích và điều đó làm ngài trích dẫn các đoạn văn ấy và sống các lời ấy, giúp chúng ta hiểu các đoạn Thánh Kinh ấy. Thêm nữa, người ta thường nói đến “tính nhân bản” của ngài, cảm quan và con người nơi ngài như là một trong những đặc điểm của bản lĩnh nơi ngài. Có lẽ, chúng ta có thể nghĩ rằng sự nhạy cảm ấy đối với tất cả những gì liên quan đến con người được liên lỉ thêm phong phú nhờ ngài sống càng ngày càng thân mật với Đức Kitô của Tin Mừng và chiêm ngắm Chúa Giêsu trong nhân tính của Chúa.

Vài đoạn Tân Ước, trong số các đoạn ý nghĩa nhất:

Mt 11,23 “Hãy học gương tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường”

Mt 25,34 “Ta đói các ngươi đã cho ăn…”

Rm 12,15 “Vui với người vui, khóc với người khóc…”

1Cr 13 “Về đức ái huynh đệ”

Và của thánh Pierre Fourier:

– nên mọi sự đối với mọi người:

(Về các giáo dân họ đạo của ngài) “Hơn 40 năm nay tôi khóc với anh em khi tôi thấy anh em khóc và tôi cảm thấy rầu rĩ, ốm đau và khó chịu khi tôi biết rằng anh em như thế” (thư ngày 28/7/1637)

“Vì là cha sở của họ, tôi cảm thấy phải vâng lời họ, phải đi đó đây, thức khuya dậy sớm, hiện diện khắp nơi và hiến cho họ mạng sống của tôi nữa (theo như Chúa Giêsu dạy chúng ta) nếu cần liều nó cho họ lúc nào đó.(thư ngày 09/11/1961)

một đức ái bao la và phổ quát

Ngài dặn các nữ tu dòng Đức Bà: “các nữ tu Dòng Đức Bà… biết rằng mến Chúa là khởi đầu Luật Dòng của chị em…Chúa đón nhận tất cả những gì ta làm vì bác ái đối với đồng loại như thế là là làm cho chính Ngài vậy… và vì ta không thể thương yêu tha nhân nếu chúng ta không khiêm nhường, kiên nhẫn, hiền lành…(tiếp theo là đoạn 1Cr 13) chị em chăm lo đặc biệt dạy dỗ giới trẻ… cuối cùng chị em tìm hết mọi cách có thể làm được và thích hợp với Tu Hội của chị em để giúp đỡ tha nhân.” [2]

“Từ lòng mến Chúa lành thánh đó…” nảy sinh nơi lòng yêu tha nhân đúng mức… nhưng không thu hẹp trong khuôn viên của Tu viện; lòng mến ấy làm nảy sinh nơi nữ tu lòng nhiệt thành lớn lao muốn cứu rỗi các linh hồn (tinh thần sơ khởi, 15)

  • Việc loan báo Lời Chúa không thể tách rời khỏi việc phục vụ tha nhân và lo lắng cho người nghèo.

Các Cha sở “ tôi tá của Đức Giêsu Kitô thì đừng thoái thác và đừng bao giờ trì hoãn khi được gọi đến với bổn đạo)… và khi các chủ chăn phối hợp hai điểm này: bố thí và Lời Chúa và thêm vào đó gương sáng nữa… đó là một sức mạnh không gì thắng nổi, các người lôi kéo được mọi người trong giây ràng buộc của Đức ái” (thư ngày 1-7-1639)

Bố thí, thời thánh P.Fourier, quả  là một việc lành phúc đức nhằm được biết Thiên Chúa bởi vì người nghèo là hình ảnh Đức Giêsu Kitô, Cha Sở họ đạo Mattaincourt không loại trừ hành động có tổ chức chống lại sự bần cùng hóa và chúng ta biết nhiều sáng kiến của ngài, đối với ngài sự tỉnh thức đối với vấn đề công bằng xã hội cũng nằm trong việc cải cách mục vụ.

“… thường thường các cha sở đối xử với những kẻ nghèo nhất cũng như kẻ giàu có nhất… các ngài không đòi hỏi gì và không lấy gì của người nghèo về quyền của một cha sở khi ngài dự lễ đính hôn hay đám cưới của họ, rửa tội cho con cái họ, ban cho họ phép xức dầu bệnh nhân, cho họ nơi chôn cất trong đất thánh, dự lễ an táng của họ, và hát lễ cũng lớn và đầy đủ nghi lễ như đối với những người giàu có vậy…” (1/7/1639).

Để kết luận xin trích một câu trong bản tóm lược ý định… năm 1611: “ các nữ tu Dòng  Đức Bà cố gắng làm thế nào để không có nơi nào chị em ở mà không cảm thấy cách này hay cách nọ, sự giúp đỡ của chị em về mặt thiêng liêng hay thể xác”.

[1][1] Pierre Fourier, Opuscules Notre Dame, trang 491.

[2] P. Fourier, Opuscules ND, trang 109