Chân Dung Cha Pierre Fourier Qua Một Số Lá Thư Của Ngài

Cha Pierre Fourier (1565 – 1640) là một gương mặt thánh nhân lớn vào đầu thế kỷ XVII. Ngài không chỉ là Đấng Sáng Lập Dòng Đức Bà mà còn là một Cha Sở thánh thiện, đã quan tâm và giúp đỡ hầu hết mọi người trong nhiều hoàn cảnh sống cơ cực khác nhau của thời đại ngài. Có thể nói, tầm ảnh hưởng từ công việc mục vụ của ngài đã bao trùm trên nhiều nhân vật và nhiều lĩnh vực còn lan rộng đến ngày nay. Con người của ngài có nét tương đồng với Thánh Phaolô: tất cả tâm tình, thao thức, sứ vụ và cách hoạt động của ngài, đời sống thiêng liêng, sinh hoạt thường ngày và cả cá tính, phong cách của ngài đều được thể hiện một cách sâu sắc qua những lá thư ngài viết. Ngài đã viết rất nhiều thư (xấp xỉ 2000 bức) cho rất nhiều đối tượng khác nhau với một lòng nhiệt thành bừng cháy không vơi cạn cho đến tận cuối đời.

Tôi đã đọc những lá thư của ngài do tác giả René Taveneaux tuyển chọn và ghi chú trong tác phẩm “Mục vụ, Giáo Dục, Khối Châu Âu Kitô Giáo”. Điều ấn tượng mạnh mẽ đầu tiên chính là đức tin của Cha Pierre Fourier. Cha có một đức tin lớn lao đến độ vượt lên trên những hoàn cảnh u tối của thời đại, những hoàn cảnh dễ khiến người ta mất đi lòng trông cậy (đó là thời buổi của chiến tranh, đói kém và bệnh dịch liên miên cùng với các hiện tượng phù phép, lũng đoạn chính trị và sa sút đạo đức nghiêm trọng). Cha luôn tin tưởng vào lòng nhân từ của Thiên Chúa, dù cho thực tế có ủng hộ điều đó hay không: “Thật đáng thương! Thật là một cuộc hành trình dài… Nhưng nếu Thiên Chúa rất mực tốt lành, khôn ngoan và uy quyền của chúng ta an bài cách khác thì xin danh Người được tôn vinh” (Thư gửi các nữ tu ở Saint-Nicolas năm 1635 sau khi quân đội Thụy Điển cướp phá thành phố). “Bàn tay từ ái Đấng Cứu Độ dịu hiền đã chạm đến chúng ta, đánh và gây thương tổn cho chúng ta qua sự kiện đồ đạc của chúng ta bị cướp phá, di sản đất đai của chúng ta không được trồng tỉa… giáo xứ của chúng ta hoàn toàn bị bỏ trống do cư dân đã chết đi vì nghèo đói…” (Thư gửi Cha Perpète Maretz năm 1638 khi các cộng đoàn bị tan rã do nạn đói kém). Đối với Cha Fourier, dù cho cuộc sống có bi thảm đến thế nào thì nó cũng không thể xóa đi dấu ấn yêu thương, dịu hiền và nhân từ của Thiên Chúa Cứu Độ và không thể ngăn cản ngài dâng lời tạ ơn mỗi giây phút lên Đấng ấy.

Nét đặc biệt thứ hai của ngài làm tôi chú ý, đó là sự đòi hỏi cao nhất mà ngài dành cho tất cả những ai được ngài ưu ái hướng dẫn trên đường thiêng liêng. Ngài không câu nệ người đó là nữ tu hay một bá tước, một quận công, tiểu thơ hay một chính khách, thị trưởng… tất cả đều phải tiến lên mức cao nhất mà Thiên Chúa mong đợi nơi một con người và trách nhiệm của ngài là giúp người ta nhận thức được ơn gọi nên hoàn thiện của mình. Chúng ta có thể đọc thấy điều đó trong nhiều lá thư của ngài: “Cháu hãy luôn luôn đem lòng kính sợ Thiên Chúa… và luôn luôn tìm cách vâng lời và phục vụ Người trong những gì cháu có thể làm được” (Thư gửi cháu Francois Borlier năm 1640), “ngài luôn luôn nhắm đến vinh quang của Thiên Chúa qua những gì ngài nói, ngài làm, xuyên qua 4 mùa và mọi ngày giờ của năm tháng, ngài không dám bắt đầu một cái gì mà không dựa vào sự hướng dẫn của Thiên Chúa (thư hướng dẫn cho hành trình của một nhà quý tộc được cử đi phục vụ Vương Công và Tổ Quốc), “ông sẽ khêu lên trong mỗi người, tùy khả năng của họ, một lòng ước muốn mãnh liệt, không bao giờ chán, cương quyết và kiên trì, muốn luôn luôn làm vui lòng Thiên Chúa trong tất cả mọi sự họ có thể làm được.” (Thư gửi một người không quen biết về đề tài một ngôi nhà thờ bé nhỏ tại gia),… Chúng ta sẽ không cần nhắc tới những lá thư dài mà Cha viết cho các nữ tu hoặc các cha sở, tu sĩ dòng của ngài, cho các khấn sinh và các tiểu thơ ngỏ ý xin vào tu viện. Những lời lẽ của ngài luôn tràn đầy một tâm tình ngưỡng vọng về Thiên Chúa và trời cao như thể hối hả thúc giục mọi người trần thế phải mau mắn hớn hở hướng mọi hành động, suy nghĩ, lời nói của họ về công cuộc duy nhất này là làm vinh danh Thiên Chúa hơn.

 Điểm thứ ba thật đẹp và đáng trọng nơi con người Cha Pierre Fourier là cá tính của ngài đã được hài hòa trong ân sủng. Có lẽ Cha mang trong nhân cách của mình một bầu nhiệt huyết nóng bỏng, một con tim nồng nàn và tinh thần làm việc hăng say trong cách thức chu toàn phận sự tốt nhất với trách nhiệm cao nhất. Như thánh Phaolô đã hết lòng khuyên nhủ các giáo đoàn hãy noi gương nhiệt thành của ngài, Cha Fourier đã hẳn mang lấy biết bao gánh nặng khi nhìn chung quanh hàng giáo sĩ và tu sĩ không phải ai cũng chung tay góp sức hết lòng phục vụ Thiên Chúa và anh chị em giáo dân như ngài. Trong các thư của Cha, chúng ta chỉ nhìn thấy một con người đã cố gắng hết sức để sống lòng bác ái theo cách thức của một cá tính nồng nhiệt và âm thầm kiên nhẫn với bao nhiêu những tệ nạn và khó khăn trong cũng như ngoài giáo xứ, tu viện của ngài. Ngài còn có một khả năng biện luận sắc sảo và óc quan sát tuyệt vời, những gì ngài thấy, ngài có thể phân tích theo những nguyên tắc tôn giáo và luật lệ chặt chẽ, nhưng không vì vậy mà ngài cứng cỏi hay nổi nóng. Chúng ta biết câu chuyện ngài đã cho người dân đến xin trứng và rượu một cách rộng rãi và hầu như hạ mình trước sự đòi hỏi vô lý của người ấy. Ngài cũng viết một cách mạnh mẽ mà vẫn kiên nhẫn và chịu đựng trước sự lạm quyền của vị bề trên: “Vâng, đúng thế, ngài là bề trên thật đó, nhưng không phải trong lĩnh vực này…quyền uy của ngài không toàn bộ đến nỗi không có giới hạn…Rồi bây giờ, tôi muốn khuyên các chị như thế này: các chị hãy trình bày…và van nài xin ngài nhân danh Chúa…để cho các chị được bình yên và an tâm sử dụng quyền của các chị… Nhưng nếu xảy ra là ngài không chịu hiểu điều này và cứ tiếp tục làm khổ các chị… thì tôi khuyên các chị đừng ồn ào thêm nữa… mà hãy cùng nhau chạy đến sấp mình dưới chân Nữ Vương Thân Mẫu của các chị…” (thư gửi các nữ tu thành Troyes năm 1630) Chúng ta có thể tìm biết và hiểu thêm về con người của Cha một cách cá nhân hơn nữa khi chúng ta cầu nguyện cùng với các lá thư của ngài.

Điều đặc sắc thứ tư nơi Cha Fourier là một khả năng chăm lo chu đáo, cẩn thận đến từng chi tiết với một óc thực tiễn cao độ. Ở điểm này, Cha tỏ ra là một người có năng lực quản lý xuất sắc và một lòng lưu tâm trìu mến của người mẹ. Ai đã từng đọc những lời dặn dò của Cha hẳn sẽ ngạc nhiên về sự cẩn thận, chu đáo của ngài: “Nếu ngài đến (Đức Giám Mục thành Toul), thì nên lo hết sức các chị để căng màn trướng và trang hoàng cho thật đẹp,… các chị cũng phải lo quét dọn cẩn thận cả con đường từ đường cái vô đến nguyện đường của các chị rồi dọc theo con đường đó, trồng vài chậu cảnh, vài chậu hoa nếu các chị kiếm ra được” (Thư gửi các nữ tu thành Saint-Nicolas năm 1609). Chúng ta sẽ đọc thấy một danh sách chi tiết kỹ lưỡng những điều phải làm (với nhiều gợi ý rộng mở và cho phép lựa chọn trong nhiều tình huống Cha đã dự trù) mà Cha viết cho các nữ tu khi di chuyển (kinh nào phải đọc, thánh ca và thánh vịnh nên hát với tâm tình nào, đi theo lối nào, bằng cách nào và với những ai…), cho các tu sĩ dòng Đấng Cứu Độ khi đi khất thực, cho các nữ tu phải quan sát những gì (một danh sách rất dài và chi tiết) khi đến tham khảo lối sống của một tu viện nữ khác…

Một điểm tiếp theo làm đánh động trái tim tôi cách đặc biệt, đó là tình thương ân cần và sâu đậm mà Cha dành cho các chị em dòng Đức Bà. Quả thật Cha đã xem các chị em như hoa trái đầu tiên của lòng sốt mến dành cho Thiên Chúa và tha nhân, như những người thân yêu trong cùng một nhà. Cha đã vượt lên trên những quan điểm khắt khe về mối tương giao giữa tu sĩ nam nữ của thời tiền công đồng Trento mà vẫn giữ được tinh thần trong sáng theo truyền thống nghiêm ngặt của đan viện. Cha đã dạy dỗ, hướng dẫn, đã dành cho các chị những gì tốt đẹp nhất Cha gặt hái được trong những năm tháng được đào tạo và sống đời cầu nguyện tại trường học dòng Tên cũng như những tác vụ sau này, đã âu yếm gọi các chị là “những chị em/những nữ tu yêu quý”, đã nhớ đến và liên hệ với các chị trong mọi cảnh huống của đời sống… Có thể nói, không có nơi nào mà Cha đã bộc lộ trọn cả tấm lòng và tình yêu như với các chị em dòng Đức Bà: “Để tự an ủi và để một cách nào đó hít thở giữa biết bao điều khốn khổ khi chúng tôi thấy là tốt (nghĩa là khá thường xuyên), cả hai chúng tôi (Cha Pierre và Cha Terrel) hoặc là một mình, tôi đi đến tu viện của các chị, chúng tôi sẽ mạnh dạn bước vào các lớp học…, vào ca tòa để chiêm ngưỡng và tôn kính những miệng thiên thần xướng hát và ca ngợi Thiên Chúa thật sốt sắng… và đôi khi chúng tôi cũng đi lên tận phòng và không chút ngại ngùng chúng tôi đến gõ cửa các phòng riêng… và khiêm tốn, kính cẩn nói với các chị rằng “chào chị buổi sáng, hay buổi tối hoặc chúc chị đọc giờ kinh chiều sốt sắng”, tùy theo thời giờ khi ấy và không cần giáp mặt hay thấy tay họ” (Thư gửi các nữ tu ở Bar năm 1636 từ Gray). “Nếu tôi còn sống và còn mạnh khỏe ngày mùng 4 tháng sau, tôi sẽ dâng thánh lễ…cho tất cả chị em mà tôi quý trọng và âu yếm chỉ duy trong Chúa mà thôi” (Thư gửi các nữ tu ở Joigny năm 1631). Nếu chúng ta khám phá ra lòng vui sướng và đau khổ của Cha đến mức nào khi thấy các chị được bình an hay gặp tai họa, chúng ta sẽ yêu mến Cha thật nhiều.

Để kết thúc, tôi không thể không nhắc đến tài viết lách của Cha qua những thủ pháp ngôn ngữ Cha thường sử dụng. Cha có một khối lượng ngôn từ dồi dào và khả năng vận dụng từ ngữ đến nỗi không bao giờ tỏ ra lúng túng khi phải liệt kê, so sánh, liên tưởng, và cũng phải nói rằng, trí tưởng tượng, suy tư và hình dung của Cha quá phong phú và sâu rộng nên đã làm cho các bút tích của Cha trở thành những tác phẩm văn chương thực thụ. Đó là một công trình của tình yêu trong trái tim người mục tử đã trở nên giống Thầy của mình: tấm lòng của Cha trào ra ở đầu ngọn bút và thỏa sức diễn tả sức nóng của nó trong từng câu chữ thiết tha và sôi nổi, mạnh mẽ và dịu hiền. Thật không sai khi nói rằng con người vĩ đại này đã vẽ chân dung mình trên giấy mà không hề hay biết, để qua bao thời đại, chúng ta vẫn gặp được dáng hình của ngài một cách rõ nét và sống động trong những lá thư vừa đẹp về cách thức vừa chan chứa ý nghĩa và tâm tình trong nội hàm mà nó chứa đựng.

Bình Tâm – Tập sinh CND 2019