Hội Dòng Đức Bà – Cùng Một Cái Nhìn Hôm Qua Và Hôm Nay

Thế kỷ 16 là khoảng thời gian đầu những chuyển biến, xáo trộn (và không phải là không giống thời đại chúng ta ngày nay). Đó là một thời đại phong phú với những giá trị lớn lao của nhiều trào lưu nhân văn, triết học nhưng cùng lúc, thời đại này cũng trải qua những khủng hoảng nặng nề.

Ở xứ Lorraine, đời sống của dân chúng gặp nhiều khó khăn : nào là nhũng lạm, đói kém, dịch bệnh, bất công xã hội,… Bên cạnh đó, Giáo Hội sống trong giai đoạn cải cách và canh tân thời hậu công đồng Trente 1563.

Chính trong bối cảnh này, linh mục Pierre Fourier, thuộc Dòng Kinh Sĩ và là cha sở họ đạo Mattaincourt, đã cùng với mẹ Alix Le Clerc, cô thiếu nữ trước đó thuộc tầng lớp tư sản, vạch ra một nẻo đường mới trên hành trình theo chân Đức Giêsu Kitô.

Chúng ta cùng nhau khám phá lại hai khuôn mặt vừa rất gần gũi vừa rất xa xăm với chúng ta. Tiếp cận với đời sống bí nhiệm của người này, chúng ta hiểu được những điều ẩn kín của người kia.

Dừng lại trong thinh lặng
Để chiêm ngắm những khuôn mặt
như người ta vẫn ngắm nhìn biển cả mênh mông…
như người ta vẫn thường ngẩn ngơ
trước sự sống đang nảy sinh, tuyệt mỹ, diệu kỳ…
Rồi sau đó lặng lẽ khép mắt lại để bắt gặp
Dung mạo của Đấng mà người ta không thấy được.
                                                                      Salvator

Cái nhìn của thánh Pierre Fourier,
cái nhìn của một con người nhất quán, mạnh tin và mến.

Một cái nhìn khoan dung với hết những ai thánh nhân gặp gỡ.

«Không làm hại ai, mưu ích cho tất cả mọi người». Đây là lời của thánh Ambroise và cha Pierre Fourier đã chọn làm ý lực sống cho bản thân. Cha ước muốn sống cho thật thực tế, cụ thể và hữu hiệu các mối tương quan với mọi người.

«Nếu các chị biết được thế nào là làm cha sở, ấy có nghĩa là làm người mục tử, làm cha, làm mẹ, làm thủ lãnh, người hướng dẫn, người giữ gìn, người nuôi dưỡng, làm gương mẫu, tấm gương phản chiếu mọi sự tốt đẹp, sống trọn vẹn cho tất cả mọi sự».

«các cha sở sẽ đối xử với những người nghèo nhất và những người giàu nhất như nhau»: không nên đòi hỏi gì cả về chi phí các buổi lễ rửa tội, hôn phối đối với những ai nghèo khổ và khi hạ huyệt chôn cất họ, «sẽ hát và hát lớn như khi làm lễ cho các người giàu nhất».

«hãy làm quà biếu tặng cho những người nghèo khó cùng cực đôi mắt đầy tình người, đôi mắt đầy nhân hậu và khoan dung của chúng ta… »

Cha Pierre Fourier giao tiếp với đủ mọi thành phần trong xã hội. Việc liên lạc thư từ khắp nơi là một bằng chứng. Cha đã nắm giữ các mối tương quan hệ trọng đối với triều đình Lorraine, mà sau đó đã trở thành cố vấn cho gia đình công tước. Và cũng chính những mối quan hệ này đã buộc cha phải rời bỏ Lorraine sống lưu vong những năm cuối đời.

Cái nhìn có tính cách ngôn sứ : sáng suốt trước những thực trạng khốn quẫn tuyệt vọng.

Nhờ có đời sống chiêm niệm nuôi dưỡng và hun đúc, cha Pierre Fourier «vạch những con đường xem ra khó tiến bướcc, nhưng lại là những con đường duy nhất làm nên sự mới mẻ».

Cha dấn thân cụ thể với một ý thức lương tâm mạnh mẽ về vấn đề đấu tranh cho công bằng và sự liên đới trong xã hội. Cái nhìn sáng tạo của cha đã mang đến những giải pháp giúp thoát khỏi những ngõ cụt trong cuộc sống, mà như ông Leonardo Boff nói : «không có những giải pháp đó, cuộc sống bị đe dọa và mất ý nghĩa». Chúng ta hẳn đã biết cha Pierre Fourier đã làm gì với quỹ trợ vốn St Epvre, với ủy ban phân xử,… Với óc tổ chức, lãnh đạo, điều hành cách tài tình, cha đã trở thành người tiên phong trong việc thực thi công bằng xã hội tại xứ Lorraine, vào thời bấy giờ.

Cái nhìn khiêm tốn : biết học hỏi nơi các bậc tiền nhân thánh thiện.

Trong suốt thời gian dùi mài kinh sử ở đại học Pont – à – Mousson với các cha Dòng Tên, cha Pierre Fourier đã «gặp gỡ» các thánh Giáo Phụ, đã chuyên cần kín múc nguồn tư tưởng từ kho tàng thần học tinh túy của các ngài.

Thánh Bernard là một trong những vị thánh nhân quen của cha. Chính nhờ Thánh Bernard mà cha khám phá được điều này: ai đã nhận lệnh truyền của Chúa là yêu thương người thân cận như yêu chính mình, thì trước hết phải biết yêu thương chính bản thân mình.

Thánh Âu-Tinh cũng là người bạn rất thân thiết của cha. Ở tuổi 20, khi gia nhập Dòng Kinh Sĩ ở Chaumousey, cha đã bị cuốn hút bởi tinh thần bác ái và tự do của thánh Âu-Tinh. Cha thật sự ngưỡng mộ luật Âu-Tinh và đem ra thực hành cách sống quan tâm đến mọi người với sự tôn trọng những khác biệt phong phú.

«Khi ở trong Dòng Kinh Sĩ, cha Pierre Fourier khao khát sống đời tu, không theo kiểu đan tu, nhưng theo Luật thánh Âu-Tinh, vì Luật này cho phép cha mở rộng các hoạt động tông đồ và mục vụ trong sự nâng đỡ, trợ lực của cộng đoàn.» (theo bài chia sẻ của chị Paule Sagot ở Caen, 1991)

«Cha Pierre Fourier đã chia sẽ với Thánh Âu-Tinh một số điều thâm tín sâu xa, đó là khao khát dâng tặng đời mình cho cuộc canh tân Giáo Hội và hết sức chú tâm, sáng suốt trước những vấn đề của thời đại.» (theo bài chia sẻ của chị Paule Sagot ở Mattaincourt,1991)

Cái nhìn tỏ lộ tình yêu tha thiết đối với đồng loại.

Đặc điểm chúng ta thấy trước hết nơi cha Pierre Fourier : cha đã sống rất thân mật với Chúa Giêsu. Trong mối tương quan này, cha đã học mở đôi mắt để nhìn với đôi mắt của Chúa Giêsu, để phóng tầm nhìn xa hơn những gì mắt thấy. Cha đã để cho cái nhìn của Chúa Giêsu lôi cuốn và lắng đọng lại trong đôi mắt mình. Và từ đó, cha học được cách nhìn của Thiên Chúa trên con người. Rồi cứ thế, niềm khao khát «bắt chước Đức Giêsu Kitô hiện diện, đồng hành với nhân loại» cứ lớn dần lên và thể hiện qua hành động. Cha theo chân Chúa Giêsu, sống giữa mọi người, chia sẻ cuộc sống thường nhật của mọi người trong từng niềm vui, nỗi khổ và lo lắng trăm chiều. «Cha đặc biệt nhạy cảm với mầu nhiệm Nhập Thể và Vượt Qua của Chúa Giêsu, Đấng đã cứu chuộc trần gian bằng cách phó nộp chính mình trong tay con người, chịu phụ thuộc hoàn toàn vào phán quyết của con người.» (theo bài chia sẻ của chị Paule Sagot trong khóa tĩnh tâm ở Verneuil,1993)

Cái nhìn của mẹ Alix Le Clerc, cái nhìn của người phụ nữ đã kín múc sức mạnh và sự táo bạo từ kinh nghiệm nội tâm sâu xa.

Cái nhìn nội tâm sâu lắng

Chính từ trong nội tâm mà cái nhìn của mẹ Alix được đào luyện và thành tựu. Khi mẹ được ơn hoán cải, mẹ quay nhìn trở lại trọng tâm đời mình và khám phá ra cõi lòng mình biến chuyển : «Tôi có cảm tưởng như người ta đã lấy ra tất cả những gì ở bên trong tôi, và đặt vào đó một thần trí khác.» (Tự Thuật, số 8)

Dần dần, ước muốn của mẹ quy hướng về Đấng «nhân từ và rất yêu thương linh hồn» mẹ. Cái nhìn và con tim của mẹ được Chúa thanh luyện. Đây là bí nhiệm của cuộc gặp gỡ giữa một hữu thể tự do với Thiên Chúa hằng sống». Và một khi tâm hồn đã được biến đổi, mẹ Alix liền đáp trả : «Tôi xin dâng Ngài thân xác tôi, để được nghiền nát ra nghìn mảnh, miễn là Ngài cho linh hồn tôi được đón nhận lại sự thanh khiết nguyên tuyền của nó.» (Tự Thuật, số 10)

Cái nhìn đã được Đức Maria rọi sáng

Mẹ của Đức Giêsu luôn hiện diện thân tình với Alix Le Clerc và trở nên ánh sáng, sức mạnh, nâng đỡ Alix trong mọi tình huống. Cô Alix viết : « Khi tôi đuối sức và tuyệt vọng, tôi chạy đến cùng Đức Mẹ là Mẹ kẻ ưu phiền… » Vì thế, chúng ta thấy Đức Maria đến gần Alix hơn và tin tưởng giao phó trách nhiệm :

         « Đức Mẹ đến với tôi, tay bồng con, Mẹ trao Chúa Hài Đồng   cho tôi và nói rằng : tôi phải nuôi cho Ngài lớn khôn. Điều này phải hiểu là : tôi phải làm vinh danh Ngài » (Tự thuật, số 23).

Khi đón lấy Chúa Hài Đồng từ tay Đức Maria, cô Alix cũng đã mở lòng ra đón nhận Thần Khí.

Khi xưa, Đức Maria, người thiếu nữ miền Galilê đã lãnh nhận quyền năng Thánh Thần, để cho Thiên Chúa nhập thể làm người, chia sẻ kiếp người với nhân loại, nay đến lượt cô Alix đáp lại lời đề nghị của Đức Maria, đón lấy ơn gọi làm cho Chúa Giêsu lớn lên trong tâm hồn mọi người.

Cũng noi gương Đức Maria đã hoàn toàn tự do và chủ động khi ưng thuận theo kế hoạch của Thiên Chúa dưới tác động của Thần Khi, Đấng làm cho mọi sự nên mới, đến lượt cô Alix tự nguyện « sẽ làm tất cả những gì làm đẹp lòng Chúa, cho dù phải chết đi nữa ».

Cái nhìn táo bạo hướng đến tương lai

Ánh sáng và ân sủng Chúa đã đổi mới tâm hồn cô Alix, từ một thiếu nữ say đắm cảnh phù hoa trở nên người chê ghét thói xa hoa, hăm hở quyết tâm «khấn giữ đức khiết tịnh mà không thỉnh ý ai cả», và sau đó, cô còn dám quyết liệt từ chối những đề nghị của gia đình, muốn cô chọn những đan viện khác để sống đời tu :

« Tiếng xầm xì vu khống về những thái độ đạo đức mới lạ của tôi chạm tự ái cha mẹ tôi, nên hai ngài cho đưa tôi đến nhà các nữ tu lo bệnh viện ở dòng thánh Elisabeth, sống dưới luật thánh Phanxicô. Tôi thưa rõ với hai ngài rằng đó không phải là ơn gọi của tôi và tôi sẽ không ở lại đó đâu » (Tự thuật, số 16)

Kết quả ra sao, chúng ta có thể đọc tiếp số 22 của Tự Thuật :
« …Ở Mattaincourt được ít lâu, thì cha tôi bị những người có uy thế và vài người khác trong hàng giáo phẩm thuyết phục và khuyên nên tránh để cho người ta nhạo cười vu khống lối sống mới của chúng tôi, bằng cách đem tôi đi xa các chị em mà đưa đến Verdun, trong tu viện thánh Clara ».

Bấy giờ, cô Alix phải cầu cứu đến cha Pierre Fourier. Nhưng rồi ngài dạy phải tuân lệnh cha mẹ, bởi ý kiến ấy « là một bảo đảm phần rỗi ».

« đau lòng hết sức và thấy mình bị áp đảo tư bề », cô Alix vẫn không nao núng, liền « chạy đến Chúa và Thánh Mẫu Ngài » rồi « tha thiết xin chị em cầu nguyện ».

Sự khẳng khái táo bạo của cô Alix vươn mạnh nhờ bén rễ sâu trong niềm tin tưởng phó thác nơi Chúa nhân lành, vì Người hằng nói với cô :
                            « Thầy ở với con thì phải là đủ rồi »

Do đó, cô Alix luôn xác tín : « Tất cả những hy vọng và cậy trộng của tôi đều căn cứ trên lòng từ ái và sự quan phòng của Chúa. Tôi nghĩ có lẽ đó là điều làm cho tôi hay trù định những việc vượt quá khả năng của tôi ».

HAI CÁI NHÌN BỔ TÚC CHO NHAU
HƯỚNG ĐẾN CÙNG MỘT CÔNG TRÌNH :
MỘT NGÔI NHÀ MỚI

Năm 1597, Pierre Fourier, một linh mục trẻ 32 tuổi đã đến Mattaincourt với tâm huyết sống « không làm hại ai, mưu ích cho tất cả mọi người ». Tai giáo xứ đó, cha sở đã gặp gỡ cô thiếu nữ Alix Le Clerc, 21 tuổi, mang trong tim lòng khát khao « làm mọi việc lành có thể làm được » cho vinh danh Chúa.

Một cuộc gặp gỡ quả là phong phú giữa hai nhân vật muốn dấn thân thực thi « đức ái thiết thực và hữu hiệu », nhằm xây dựng Nước Chúa giữa lòng thế giới này.

Và những mối bận tâm của hai đấng cũng đã gặp nhau. Ưu tư về nỗi khốn cùng của người dân nghèo và cảm thương trước tình trạng thất học của các bé gái lang thang, cả hai đấng đã nhận ra tiếng gọi của Thần Khí và xác tín rằng « vào một thời sa đọa đầy hiểm nguy… và nếu một nửa dân số của một thành phố lớn là trẻ nữ và phụ nữ, mà người ta chăm lo giảng dạy cho nửa kia gồm nam nhi và trẻ nam, thì không thiếu lý do để giúp trẻ nữ nữa, và điều này còn cần thiết hơn ». Thế là mẹ Alix « luôn luôn nghĩ phải làm ra một nhà dòng mới cho nữ tu, để ở đóm làm mọi việc lành có thể làm được». Điều đó đã thôi thúc mẹ Alix mãnh liệt… (Tự Thuật, số 15)

Cha Pierre Fourier thật cẩn trọng khi nhận định ơn gọi nơi mẹ Alix, và đã cùng mẹ tìm kiếm phương thế thực hiện dự định. Cuối cùng, cha đã lấy quyết định lập một nhà dòng mới, nhắm đến mục tiêu chính là dựng nên những ngôi trường, dạy miễn phí cho trẻ em nữ. Và vì thế, năm 1598, ngôi trường đầu tiên đã được khai mở ở Poussay.

Sau đó, mẹ Alix còn được nhiều thị kiến làm cho mẹ càng xác tín hơn về ơn gọi và vai trò của người nữ tu chuyên lo giáo dục : tận hiến cuộc đời cho Chúa và phục vụ mọi người với trách nhiệm làm triển nở họ.

Vào thời bấy giờ, vừa là nữ tu vừa là nhà giáo : điều này xem ra bất khả thi. Nhưng mẹ Alix không ngại gian nan, khó khăn, cản trở, vẫn nhất quyết chọn lựa tiến bước trên con đường sứ vụ của các tông đồ, với tư cách là phụ nữ. Mẹ thiết tha với công việc dạy dỗ trẻ em, phục vụ dân chúng, phục vụ Giáo Hội… và không muốn để cho rào cấm của tu viện cản lối dấn thân.

Chính vì thế mà đêm Giáng Sinh 1597, lịch sử chứng kiến sự khai sinh của Hội Dòng Đức Bà :
Một ngôi nhà mới,
Một chi thể mới trong Thân Mình Giáo Hội,
Một gương mặt mới của Chúa tỏ ra cho nhân loại chúng ta.

Cái nhìn đã được Đức Maria rạng sáng qua tiếp cận với cha Pierre Fourier và mẹ Alix Le Clerc : các chị em trong cộng đoàn đầu tiên…

Mở mắt nhìn vào các thực tại của đời sống thường nhật

Đó là lời mời gọi
«các chị thân mến, các bổn đạo rất đáng thương của tôi đang rất cần bánh mì và đồng thời họ cũng đang ở trong sự hiểm nghèo – cực kỳ hay có khả năng – bị truyền nhiễm… Một bên thì tôi thấy nạn đói kém cực kỳ và sự nguy hiểm phần xác và phần hồn của bao nhiêu người mà một ngày kia tôi phải trả lẽ trước mặt Chúa ; và một bên thì tôi thấy năm sáu chị nữ tu rất ngoan ngoãn, rất thánh thiện được chúc phúc và dư thừa mọi thứ của cải vật chất cũng như thiêng liêng… Có hợp tình hợp lý, có phải lẽ không nếu tôi bỏ các người đau khổ đáng thương đó bơ vơ… » (thư gởi các nữ tu thành Bar, 23/05/1631)

« Chị em chớ bỏ lỡ cơ hội để được kể như những người giàu tình thương nhất… » (thư gởi các nữ tu St Mihiel, 19/10/1619)

« …không bao giờ tránh né, không bao giờ trễ nải khi được gọi…

« …của bố thí và Lời Chúa, rồi lại thêm vào đó gương tốt… thì nhờ ơn Chúa, đó là sức mạnh không gì thắng nổi… » (Gray,1/7/1639)

Mang cái nhìn quan tâm dạy dỗ, đặc biệt đối với các trẻ nữ

« …Không những giữa đám dân thường, mà còn ở nhiều nơi khác nữa, người ta không biết gì về những điều cần thiết cho ơn cứu rỗi, lại có sự hư hỏng đáng kể về lối sống và về đạo đức. Và một trong những phương tiện chính để chữa trị những căn bệnh trên, đó là dạy dỗ trẻ em, ngay từ tuổi thơ, trước khi tâm trí của chúng bị đầu độc và bị ảnh hưởng ma giáo của thời đại… » (văn bản gởi cho ngài Virion, 5/1627)

« …giới trẻ dốt nát và sa đọa trong thói ăn nết ở, chỉ biết thề thốt chúc dữ, chửi thề, bất tuân, nói và nghe những lời lễ và bài hát lếu láo… Để có thể tránh cho các thiếu nữ những điều đó, và giúp họ trở nên đạo đức, biết vâng lời và nết na, thì điều cần thiết là các thiếu nữ đó phải được dạy dỗ từ tuổi nhỏ thật sớm và kỹ lưỡng… bởi vì khi chúng lớn tuổi và trở thành bà mẹ trong gia đình, chúng thường ở trong nhà để cai quản con cái, tớ trai, tớ gái, quản lý tất cả nhà và hơn thế nữa còn ban phát cho những đức con trai con gái của ăn đầu tiên, những ấn tượng và những mẫu gương tốt hoặc xấu có thể ghi sâu trong tâm hồn chúng, và còn có thể không xóa nhòa được cả đời. » (Bản luật tạm thời, 17/9/1627)

« …Tập đọc, tập viết để cha mẹ được hài lòng muốn con cái mình biết đọc biết viết, và để đào tạo nhiều cô giáo ngoại trú sau này có thể mở trường nho nhỏ tại những thôn làng và những nơi hẻo lánh hay thị xã và ngay cả ở các đô thị nữa… nhờ vậy mà giới trẻ khắp nơi được dạy dỗ.» (Bản luật tạm thời, 1627)

« Dự án xã hội rộng lớn được gieo vãi và phát triển từ trong một ngôi trường làng khiêm tốn. Qua công việc giáo dục trẻ nữ, cha Pierre Fourier nhắm biến đổi thực trạng địa phương, làm thay đổi hiện trạng gia đình và cả xã hội nữa.» (bài chia sẻ của chị Paule Sagot ở St Pierre Eglise, 1994). Và như thế, mẹ Alix đáp trả được lời mời gọi của Đức Maria «Hãy làm cho Hài Nhi lớn lên».

Cha Pierre Fourier và mẹ Alix Le Clerc đã sống chỉ để trao tặng lại niềm vui sống cho mọi người.

Mang cái nhìn bao dung, tôn trọng sự khác biệt và không loại trừ ai.

Người nữ tu mang sứ mạng giáo dục luôn « để cho tất cả mọi trẻ được mời đi học và không một em nào bị loại ra vì thiếu hụt hay vì lý do nào khác, và để cho các em nghèo được đón tiếp với tình bác ái và giáo dục đàng hoàng…

« đối với những trẻ em trí tuệ ít ỏi và còn hoang dại, thì ngoài những bài giảng hay những bài học bình thường và công khai của các mục tử, rất cần có những người khác biết cắt nghĩa lại cho chúng, một cách gần gũi để hiểu chúng hơn… (bản luật tạm thời,1627) và « không nổi giận vì có những học trò chậm hiểu…nhưng sẽ dịu dàng khích lệ các trẻ em học tập cho giỏi và làm việc bổn phận cho tốt. » (Hiến Chương 1640, phần III, chương 16)

Hoặc « nếu có một trẻ nữ theo đạo Tin Lành xin học với các em khác, hãy đối xử với em đó thật hiền hòa và bác ái, đừng để cho các trẻ khác nạt nộ em đó hoặc khiển trách hay bực bội nó và đừng trực tiếp đả kích tôn giáo của nó.» (thư gởi các nữ tu ở Metz, 16/2/1624)

Một cách nhìn bao dung như vậy thật khó tìm thấy vào thời đại bấy giờ. Cha Pierre Fourier luôn nhắc nhở chị em « sống tốt lành, để Chúa sử dụng như một dụng cụ thích đáng và hữu hiệu hơn trong công việc, để chu toàn sứ vụ với lòng sốt mến và trung thành vì lòng mến Chúa và kính sợ Người, và để cung cấp cho trẻ em cùng với giòng sữa tín điều là một bản mẫu và một gương sáng tuyệt hảo của mọi nhân đức, điều này có nhiều ảnh hưởng mạnh mẽ trên những tâm hồn non nớt hơn là tất cả những lời nói và lý lẽ » (Bản Luật tạm thời,1627)

Khi Hội Dòng Đức Bà được mời gọi lập nhà ở Honfleur, cha nói với các chị ở Châlons : « Để phụng sự Chúa và phục vụ các tâm hồn đã được Máu Chúa cứu chuộc, và để cho Hội Dòng các chị tiến triển, thì nếu các chị thấy cần phải vượt đại dương tìm kiếm các linh hồn, đem về cho Chúa, các chị hãy quyết định ngay, hãy chạy nhanh lên và hãy thông thương cho được » (31/1/1626)

Mang cái nhìn khao khát kiếm tìm Thiên Chúa

là mang cái nhìn định hướng lại bản thân không ngừng

Để cho « được giàu thêm nhân đức và tiến bộ trên đường thiện hảo, và để cho tha nhân được nâng đỡ », cha Pierre Fourier khuyên nhủ phải năng duyệt xét lại bản thân, nhằm thanh luyện và giải phóng con tim khỏi ba « mối tội đầu » là kiêu hãnh, cẩu thả và vô ơn.

« sự thật trần trụi, lòng ngây thơ, tính đơn sơ xem ra rất đẹp, rất táo bạo, rất chắc chắn, rất đẹp lòng Thiên Chúa và người ta», cho nên phải «hăng say ước muốn, quyết tâm và liên lỉ không gì nguôi được, làm đẹp lòng Chúa». Lòng ước muốn đó là hoa trái của ân sủng Chúa. Vậy phải : «khơi dậy hoặc tăng cường và cắm sâu trong tâm khảm một nỗi háo hức lớn, một cơn đói khát, một niềm ao ước mãnh liệt, cương quyết và trung kiên, và không bao giờ thỏa, niềm ao ước sống đẹp lòng Chúa trong mọi sự, lớn cũng như nhỏ.» (Pierre Fourier)

Và Mẹ Alix nói : «hãy cố gắng thưởng thức sự hiện diện hồng phúc của Chúa và chăm lo chuẩn bị một nơi xứng đáng cho Người. Chúng ta đừng ngạc nhiên về sự nghèo khó của mình… Người chỉ yêu cầu chúng ta trung thành và ra công sức một chút thôi… »

« trong mọi hành động, chị nữ tu hãy hướng nhìn thẳng về Thiên Chúa,… nhắm đến điều trọn lành nhất, một cách dịu dàng, không quá gò ép và cũng không hấp tấp »

« sao cho đức khiêm nhường Kitô giáo, nữ hoàng bác ái, đức kiên nhẫn an bình và từ tốn, và lòng nhiệt thành với các linh hồn nung nấu chị em »

«Nguyện cầu sao cho mọi sự, dù suôn sẻ hay trắc trở đều là những con đường đưa chị em đến thẳng với Chúa ».

Như Thánh Âu-Tinh đã nói : «bởi vì bạn chưa thấy Thiên Chúa, cho nên khi yêu mến tha nhân, bạn mới đáng được xem thấy Người. Và bằng cách yêu mến tha nhân, bạn thanh luyện đôi mắt để ngắm nhìn Thiên Chúa.»

Là mang cái nhìn tiếp cận với Đức Ki tô trong Tin Mừng

Khi viết hiến chương, cha Pierre Fourier nhấn mạnh :

« Khi đáp trả lời kêu mời của Thiên Chúa…các nữ tu sẽ chứng tỏ rằng tất cả cố gắng của chị em là theo sát Chúa Giêsu trong suốt cuộc hành trình của Người và bắt chước Người cho tới mức tối đa, vì thâm tín rằng mọi hành vi và lời nói của Người khi Người còn sống ở dưới trần thế này, có thể được ghi chú như bản luật, như một giáo trình để chị em căn cứ đó mà noi theo… Các nữ tu sẽ khảo sát thật kỹ những lời huấn dụ, những cách hành động của Người » xem « Người đã đề cao những gì, tôn trọng, khuyên răn, yêu chuộng thực hành những gì…đã chê ghét những gì…(HC 1640)

Mẹ Alix cũng từng nhắc nhở : «chị em cố gắng tối đa kết hợp với những hành động của Chúa chúng ta… tập hành động một cách tỉnh táo, luôn bước đi trước nhan Chúa và tìm Chúa với lòng đơn thành»

Là mang cái nhìn thấm đượm tình bác ái, hiệp thông trên bước đường tìm kiếm Chúa

Yêu thương là giới răn độc nhất Chúa Giêsu truyền và Hội Dòng Đức Bà cũng đã chọn sống theo luật Thánh Âu-Tinh mà điểm nhấn là tự do trong lòng mến. Vì thế, trong Hiến Chương, cha Pierre Fourier luôn nhắc : « Trong mọi tu viện của Hội Dòng, chị em nuôi dưỡng và duy trì một tình bác ái huynh đệ không sứt mẻ và chân thành, chị em sống với nhau trong tình thân và hợp nhất, sống trong sự bình an, hòa thuận hoàn hảo, chỉ một trái tim, một tâm hồn, một ý chí trong Chúa, vì lòng mến Chúa, với sự trợ giúp của Chúa.
…Sự ưu ái chị em dành cho nhau, đó là dấu đặc thù của các môn đệ đích thực và con cái yêu dấu của Chúa.
…Nên luôn hồi tâm và nhắc lại rằng tất cả đều là chị em với nhau, là môn đệ của Chúa Ki tô, là chi thể của một thân thể, là nữ tử của Mẹ Maria và của Hội Dòng »
(1640)

Tinh thần hiệp thông này còn được xây dựng trên sự đồng tâm nhất trí giữa chị em, dù phải giải quyết nhiều vấn đề khác biệt, khó khăn. Khi phải điều chỉnh, bàn cãi công việc : « mỗi chị phải trình bày ý kiến của mình, và nếu một chị được Chúa thúc đẩy phải trình bày một ý kiến ngược với ý kiến của chị em… thì hãy ôn tồn, hãy nói ngắn gọn, hãy có một thái độ khiêm nhu, nhã nhặn, bình an và thanh thản, không làm ra vẻ chống đối hay hiếu thắng, không giận dỗi hay bực tức nếu như không ai nghe… » (HC 1640)

Cha Pierre Fourier thường nhắc đi nhắc lại lời thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Rôma : « Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta » (Rm 5,5). Vậy, « trong thâm tâm cũng như ngoài mặt, mỗi người sẽ quý trọng tất cả các chị em khác, vì chị em là đền thờ của Chúa Thánh Thần, là hiền thê yêu dấu của Con Thiên Chúa, là những vị thánh. Mỗi người sẽ kính trọng người khác như thể các chị hết thảy đều là bậc trên đối với mình, mỗi người sẽ kính nể người khác vì lòng mến Chúa » (HC 1640)

Tiến bước trong sự hướng dẫn của Thần Khí và của Mẹ Maria

Cha Pierre Fourier rất hay nhắc tới Chúa Thánh Thần và thường căn dặn các nữ tu Dòng Đức Bà phải có « lòng sùng kính thật lớn lao và đặc biệt đối với Chúa Thánh Thần là Đấng hướng dẫn và thánh hóa chị em »…vì « trên tất cả mọi sự là ơn Chúa Thánh Thần » (HC)

Chính nhờ Thần Khí và nhờ Mẹ Maria dìu dắt, chúng ta mới tiếp tục sứ vụ đã được trao ban qua lời « Người có bảo gì, cứ việc làm theo » (Ga 2, 5)

Hội Dòng chúng ta được sáng lập và đặt nền móng trên « lời thần diệu » này. Cha Pierre Fourier đã mở đầu Hiến Chương như sau : « Hỡi con cái Đức Bà, hãy lắng nghe lời thần diệu của Mẹ chí thánh của con. Khi nhận con vào và giữ con lại trong gia đình này, Mẹ lấy tất cả tình mẹ mà nói với con những lời rất dịu ngọt.. .con hãy nhận lời chỉ giáo này với tình con thảo hiếu, nói biết nghe và nhanh nhẹn phục tùng.»

Mẹ Maria luôn mãi hiện diện bên cạnh chúng ta, thật âm thầm mà cũng thật hữu hiệu, để đưa chúng ta đến cùng Con yêu dấu của Mẹ.

Chính Mẹ làm cho chúng ta « lớn lên »
trong lòng tin và trong cách lắng nghe
trong thái độ sẵn sàng, vâng phục
trong hoạt động tông đồ

« Chính Mẹ đã cưu mang, sinh hạ, giáo dục và dưỡng nuôi Hội Dòng, và Mẹ còn tiếp tục bảo trợ trong tương lai nữa ».

Theo bài chia sẻ của chị Thérèse Hurlin