Trực Giác Của Các Đấng Lập Dòng
Thưở Ban Đầu … Ngày hôm nay…
Đây là bài thuyết trình của chị Marie-Alice Tihon tại Munich vào tháng 09-2004 trong cuộc gặp gỡ giữa các Hội Dòng Đức Bà có cùng nguồn gốc.
Vài nét lịch sử
Pierre Fourier sinh tại Mirecourt (thành phố xứ Lorraine, lúc đó còn độc lập, không thuộc nước Pháp), vào năm 1565 nghĩa là:
hai năm sau khi công đồng Tren-tô kết thúc, một công đồng đã khẳng định niềm tin của Hội thánh, một niềm tin đầy sức sống và tinh thần lạc quan, được thể hiện trong nghệ thuật ba-rốc.
- vào nửa thế kỷ sau khi đã phát hiện những miền đất xa xôi, mở rộng nhiều chân trời mới đáng kể.
- vào một thế kỷ sau khi phát minh ra máy in, nhờ đó các luồng tư tưởng của thời Cổ Đại được phổ biến rộng rãi.
Cậu bé Pierre Fourier chịu ảnh hưởng của thời đại này về tinh thần lạc quan Kitô giáo, cởi mở, quan tâm đến con người. Vào năm 14 tuổi, cậu theo học tại Đại học Pont-à-Mousson do các linh mục Dòng Tên điều hành, và lãnh hội niềm hăng say truyền giáo của Dòng Tên. Năm 20 tuổi, cậu vào Nhà Tập Dòng Kinh sĩ thánh Âu-tinh tại Chaumousey.
Năm 1597, khi được 32 tuổi, cha PF đã chọn Mattaincourt, một trong ba nơi mục vụ bề trên đã đề nghị cho cha. Cố vấn của cha là Jean Fourier, một linh mục dòng Tên đã khuyên như sau « Nếu em muốn lao nhọc nhiều và ít được khen thưởng ở đời này, hãy chọn Mattaincourt ». Đây là một thị xã có nhiều thương gia giàu buôn bán vải vóc, nhưng bên cạnh cũng có những người sống bằng tiểu công nghệ và nông nghiệp mà mỗi khi thất mùa họ phải đi xin ăn. Dân ở đây hình như không biết sống đạo là gì.
Cha Pierre Fourier ưu tư nhiều về mục vụ và xã hội : tái thiết những nhà thờ xuống cấp trầm trọng, tổ chức truyền giáo tại giáo xứ, canh tân việc dạy giáo lý, tổ chức lễ an táng cho hết mọi người kể cả những người không có tiền, ngoài ra cha còn thành lập Quỹ Saint-Evre (một quỹ tương trợ), một ban phân xử nhằm bảo vệ quyền lợi những người yếu thế nhất.
Chính trong quan điểm cải cách mục vụ và xã hội này mà công trình giáo dục và Hội Dòng Đức Bà đã được sáng lập. Vừa mới nhận xứ Mattaincourt, cha Pierre Fourier được dịp biết một thiếu nữ thuộc gia đình khá giả vừa từ Remiremont chuyển đến Hymont (một làng nhỏ thuộc xứ Mattaincourt). Đó là cô Alix Le Clerc, lúc ấy vừa tròn 21 tuổi. Hai năm trước đó, cô sống đời thượng lưu nhưng vào lúc này, cô bắt đầu cảm thấy « chán ngán cảnh đời phù vân », và ước ao đổi đời. Cha Piere Fourier hướng cô đến các Hội Dòng đã thành lập thời đó, nhưng cô một mực giữ ý hướng « thành lập một ngôi nhà mới để làm mọi sự tốt lành có thể làm được ».
Trong “mọi sự tốt lành có thể làm được”, một điều khẩn trương là dạy dỗ trẻ nữ, bởi vì vào thời ấy, chỉ có những cô bé giàu sang mới được gửi vào nội cấm các tu viện để được giáo dục. Thế nên cần phải sáng lập những ngôi trường « mở rộng » để đón nhận những học sinh ngoại trú đến học miễn phí. Cô Alix cuối cùng đã tìm ra được bốn người bạn cùng chí hướng và Đêm Giáng Sinh 1597, các cô thực hiện ước mơ sống chung thành hội dòng. Đến tháng bảy 1598, tại Poussay, ngôi trường miễn phí đầu tiên đã mở cửa đón các trẻ nữ xứ Lorraine.
Ngay từ năm đó, Luật Dòng tạm thời, là bản thảo đầu tiên của Hiến Chương sau này có ghi rõ : giảng dạy miễn phí cho tất cả mọi người. Không những các em được học giáo lý, tập đọc, tập viết, mà còn học tất cả những gì cần thiết để trở thành những bà mẹ gia đình tốt lành, những cô giáo giỏi, để sau này « hữu ích cho xã hội ». « Qua việc giúp ích thành phần này, chúng ta giúp luôn một trật vô số người khác nữa sẽ được thành phần này giúp đỡ ». Do đó, giáo dục đặt nền trên quan điểm canh tân mục vụ và xã hội của cha Pierre Fourier. « Biết là phải đáp ứng một nhu cầu cấp bách của địa phương, nhưng đây thật là một dự án xã hội bắt đầu triển nở trong những ngôi trường làng bé nhỏ này » (Paule Sagot). Thế rồi những ngôi trường khác tiếp tục mở cửa tại Saint – Mihiel, Nancy, rồi ở Pháp, tại Châlons, dành cho các trẻ giàu cũng như nghèo, Công Giáo cũng như Tin Lành.
Năm 1617, tập Hiến Chương Nhỏ đã phác thảo một hình thức cho đời sống tông đồ mở rộng, thích hợp cho thể thức hoạt động tông đồ trong tương lai. Nhưng dự án này không được Rôma chấp thuận. Nếu công đồng Tren-tô đã chủ trương canh tân mục vụ trong Giáo Hội, thì công đồng cũng quan tâm đến việc cải cách các Dòng tu, nhấn mạnh đến nội cấm. Phải chờ đến năm 1628, Đức Thánh Cha Ur-ba-nô VIII mới công nhận mục tiêu khởi đầu của Dòng là hoạt động tông đồ, chấp thuận cho tiến hành công việc giáo dục trong một cơ sở phía ngoài nội cấm và công nhận Luật Dòng thánh Âu-tinh, vốn mở rộng cho nhiều khả năng thực hiện công tác tông đồ.
Khi ấy thì Mẹ Alix đã qua đời được sáu năm rồi, và cha Pierre Fourier còn sống gần hai mươi năm nữa. Nhưng cuộc chiến Ba Mươi năm là một thảm hoạ cho đất nước. Các tu viện phải sơ tán. Cha Pierre Fourier cương quyết bảo vệ độc lập của xứ Lorraine nên bị lưu đày ở Gray. Tại đó, Cha soạn thảo trọn vẹn Hiến Chương cho tới ngày cha qua đời. Tuy nhiên cha không liên lạc được với đa số các nữ tu như cha thường hay làm để tham khảo về những lề thói trong các tu viện. Cho đến khi xuất bản Hiến Chương 1640, các tu viện vẫn còn bị phân tán.
Có những đặc điểm nào ? những trực giác nào?
Mẹ Alix đã kiên trì bằng mọi giá phải lập « một ngôi nhà mới ». Có thể Mẹ đã nhượng bộ vì những người chung quanh gây áp lực muốn Mẹ gia nhập một nhà dòng đã có sẵn, ngay cả khi đã thành lập ngôi trường thứ hai ở Mattaincourt, nhưng ý định làm một cái gì khác cứ theo đuổi Mẹ. Phải chăng Mẹ đã nắm bắt được trọng tâm của Tin Mừng ? Loan báo một “Tin Mừng” tốt lành và mới mẻ, cập nhật theo mỗi thời đại… Điều mới mẻ ở đây là săn sóc những trẻ nữ không ai dòm ngó đến. Để trung thành với trực giác thuở ban đầu, trước hết chúng ta tự hỏi : chúng ta chỉ tiếp tục những công việc từ trước đến nay hay sẽ đón nhận những “dấu chỉ của thời đại” và cảm nhận được điều “mới mẻ” từ các dấu chỉ đó ? chúng ta có tập luyện để nhìn thấy những dấu chỉ của thời đại và để dấn thân phiêu lưu với những ẩn số có khi thành công có khi thất bại ?
Các Đấng lập Dòng chọn Luật dòng thánh Âu-tinh vì muốn lập Dòng nữ Kinh Sĩ chứ không lập Dòng nữ Đan sĩ.
Đời sống đan tu tập họp những người muốn tách khỏi thế gian để sống kiên trì trong một thế giới mới theo Tin Mừng, như thể thời gian không còn đáng kể nữa, và rồi dành nhiều thời giờ cho cầu nguyện. Thế kỷ 12 chứng kiến sự rộng mở của các dòng Kinh sĩ dấn thân vào đời. Các kinh sĩ làm những công việc cụ thể đáp ứng những nhu cầu của thời đại : chăm sóc bệnh nhân (do các dịch bệnh), bảo vệ khách hành hương (những nơi Hồi giáo chiếm ngụ). Họ ra khỏi tu viện để hoạt động tông đồ, sống linh đạo phục vụ hơn là suy luận lý thuyết. Họ áp dụng Luật Dòng thánh Âu-Tinh đã được soạn thảo vào thế kỷ thứ 8, mà căn cứ vào các bút tích của thánh Âu-Tinh thì không hề có một khuynh hướng về cơ chế nào (tk thứ 5). Điều chính yếu là : « trên hết mọi sự, hãy yêu mến Thiên Chúa và tha nhân »[1]. Cuộc sống của họ tùy theo nhịp công tác đảm nhận : cha Pierre Fourier quả là một “kinh sĩ” chính tông khi cha viết « tôi luôn nghĩ phải xác nhận trước tiên điều này : các chị là các cô giáo dạy học, và để sống gần gũi nhau hơn, các chị đã muốn… trở thành nữ tu, nếu không người ta lại tưởng các chị là nữ tu trước đã rồi mới xin mở trường » (thư gửi cha R.P.Guinet ngày 17- 09-1627).
Các Đấng lập Dòng đã triển khai những nét chính yếu của Luật Dòng Thánh Âu-Tinh như thế nào ?
Ưu thế của đức ái
« Trên hết mọi sự, hãy yêu mến Chúa và tha nhân » Luật Dòng thánh Âu-Tinh đặt trọng tâm ở đức ái. So với các luật dòng khác, nét độc đáo của luật dòng này là : định hình một nếp sống tu trì bằng đức ái vốn là chiều kích phổ quát nhất trong nhân loại ! Quả là một viễn tượng rộng lớn !
Đức ái là trung tâm điểm của Hiến Chương. Đó cũng là khẩu hiệu của cha Pierre Fourier Không làm hại ai bất cứ cách nào, làm mọi việc tốt lành cho tất cả mọi người, hết mức có thể ». Và Mẹ Alix cũng cùng chí hướng : « làm mọi điều tốt lành có thể làm được ».
Điều người ta cảm nhận nơi cha Pierre Fourier cũng như thánh Âu-Tinh, đó là một niềm vui sâu thẳm « ai đã yêu thì bay cao, chạy mau và hân hoan nhảy mừng » (Correspondance tập 4 trang 123). Điều này được trình bày trong phần nói về việc giáo dục trẻ nữ :
- Các em phải cảm nhận được yêu thương : « Chị em sẽ cố gắng đối xử thật dịu hiền với các em trong mọi sự và yêu mến các em bằng tình mẫu tử tuyệt hảo » (HC 1640, phần 3, chương IX,7).
- Giáo dục phải có một tầm nhìn xa rộng, quan tâm đến con người chứ không chỉ lo về mặt tôn giáo thôi. Trong công tác giáo dục, các nữ tu « đừng để xen lẫn những gì thuộc về đời sống tu trì » (HC 1640, phần 3, chương X,5).
- Đối với các em theo đạo Tin Lành, cũng cần phải cởi mở : « Đừng dụ dỗ buộc các em phải bỏ con đường sai lầm và đừng đả kích tôn giáo của các em » (Thư gửi các nữ tu Metz ngày 26-02-1624). « Khi tặng thưởng cho các em, đừng tặng những hình ảnh có thể gây sốc nhưng hãy tặng vài tờ giấy thủ công óng ánh màu sắc, vài ngòi bút viết chữ đẹp ».
- Biết đón nhận những hoàn cảnh sống của các phụ huynh vốn không phải dễ dàng luôn đâu; cần thích nghi, hiểu biết để chỉ gặp cha mẹ học trò khi họ đã xong mùa gặt.
- Cuối cùng, giáo dục cần hướng tầm nhìn xa như đã nói ở trên, đó là đào tạo, nhân rộng thành phần nồng cốt để có thể biến đổi xã hội dần dần.
Hiệp nhất
Ban đầu khi viết Luật Dòng, thánh Âu-Tinh trích dẫn đoạn Cv 4,32 : « Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý ». Tư tưởng của ngài đã biến chuyển dần dần theo cuộc đời dần trôi. Ban đầu, khi nói đến ‘một lòng một ý’, ngài nhắm đến sự thống nhất nội tâm, sau đó ngài hướng đến sự hiệp nhất và hòa hợp giữa người với người. Rồi dần dần, tư tưởng của ngài diễn tả thêm chiều kích giáo hội, nghĩa là sống huynh đệ để loan báo Lời Chúa. Sự hiệp nhất mang chiều kích truyền giáo và tông đồ. Sống chung là sống tinh thần hiệp nhất của Hội Thánh, mà lẽ sống là phục vụ nhân loại, là cùng đi với mọi người trên con đường hướng đến hiệp nhất.
Nhiều gia đình tu sĩ đã lấy Luật thánh Âu-Tinh với những điểm nhấn khác nhau. Cha Pierre Fourier và mẹ Alix nhấn mạnh sứ vụ hơn là đời sống huynh đệ. Nếu chúng ta “đã được Thánh Thần quy tụ”, đó là để có điều kiện thuận lợi “chạy mau, liều lĩnh, táo bạo, ra khơi (…) đến tận biển cả”. Điểm nhấn về tương quan “hiệp nhất muôn lòng” với hoạt động tông đồ đã được tô đậm ở chương nói về đức ái trong Hiến chương 1640 :
« Hãy thử xem một đạo binh ngăn nắp và hiệp nhất như đạo binh của các chị thì hùng tráng và mạnh mẽ biết bao để dũng cảm chiến thắng địch thù : chị em luôn thắt chặt sự hiệp nhất bằng những mối giây thánh thiện của đức ái ».
Để duy trì sự hiệp nhất, cần có một ban quản trị trung ương. Nhưng tiếc thay là ước nguyện này của cha Pierre Fourier không được các bậc hữu trách trong giáo hội thời đó chấp nhận, vì chủ trương rằng phụ nữ không biết tự quản khi ra ngoài ranh giới tu viện.
Tự do
Đối với thánh Âu-Tinh, tự do phát xuất từ tình yêu và tôi chỉ nhắc lại một lời trứ danh của ngài :
« Cứ yêu đi rồi hẵn làm điều gì bạn muốn ». Luật Dòng của ngài rất ít điều luật.
Cha Pierre Fourier và Mẹ Alix bị ràng buộc bởi tinh thần thời đó là không nhìn nhận quyền của phụ nữ. Tuy vậy, các bút tích của cha PF để lại chứng cứ đáng kể về sự tự do :
- Tự do khởi xướng, đừng quá tính toán cân nhắc vì biết rằng thất bại vẫn có thể xảy ra : « Để được nhiều, [….] đôi khi phải liều mất một cái gì đó. Những ai quá thận trọng kỹ càng [….] và không bao giờ dám liều lĩnh [….] thường dễ mất những cơ hội tốt lành để làm những công việc phục vụ Chúa và tha nhân, và làm giàu thêm kinh nghiệm cho bản thân ». (Correspondance số 1 trang 372).
- Tự do trong cuộc sống hàng ngày : « Hãy đến gia nhập (Hội dòng) một cách tự do, vì lòng mến Chúa chứ không vì bị thúc bách hay bị ép buộc » (HC 1617), rồi « làm gì thì cũng vui vẻ và hân hoan trong Chúa » (HC 1640).
- Điều kinh ngạc là tự do ngay cả đối với cơ cấu Thể Chế : vào năm 1628, khi không biết là Rôma có phê chuẩn cho Hội Dòng hay không, cha PF viết cho cha Guinet : « Cho dù khi trở lại (từ Rôma), tôi không mang về được nghị quyết lớn nhỏ nào, thì điều đó không quan trọng hay đáng phàn nàn. Xét cho cùng, dù không có nghị quyết nào, chúng ta vẫn cố gắng sống bình an và thanh thản, trong những căn nhà bé nhỏ ọp ẹp của xứ này, vẫn hết lòng phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân hết mức có thể là được rồi ».
Còn ngày nay thì sao ?
Tổng Tu Nghị canh tân vào năm 1969 và 1972, thử nghiệm Hiến Chương vào năm 1978, rồi Hiến Chương ban hành năm 1984 : tất cả những sự kiện này đã cố đưa chúng ta trở về với những trực giác ban đầu của các Đấng lập Dòng, trong một bối cảnh đã thay đổi nhiều về thời gian và không gian, mà Hội Dòng từ đó đã trở thành một Hội Dòng quốc tế. Lúc đó, có hai điều xét ra là chính yếu đối với chúng ta :
- Xác định lại hướng tông đồ của Hội Dòng (gặp nhiều khó khăn với Rôma thời đó)
- Xác tín rằng chúng ta không thể suy xét mà lại không màng đến những hoàn cảnh bất bình đẳng và bất công trong thế giới hôm nay.
Chính vì Giáo Hội đã có một lựa chọn ưu tiên đứng về phía người nghèo, cho nên tại Châu Mỹ La tinh, nhiều chị em đã rời khỏi những ngôi trường lớn (dành cho thành phần ưu tú trong xã hội) để đến với những cộng đoàn cơ bản, những khu xóm, tham gia các nhóm Kinh Thánh, nâng đỡ người nông dân không đất đai, làm việc với người bản xứ, mở trường lớp buổi tối và nâng trình độ công nhân lao động tới cấp đại học… Phương pháp của Paolo Freire thường được áp dụng và cập nhật hóa, nhằm gây ý thức não trạng, giúp người ta lớn lên, và đào tạo nhân sự – đặc biệt các phụ nữ – để chính họ trở thành những người nắm trách nhiệm. Đây cũng là ưu tư của cha Pierre Fourier khi nhắm canh tân xã hội qua giáo dục.
Tại Việt Nam, vào năm 1975, chính quyền cộng sản đã quốc hữu hóa các nhà trường, nhưng chị em vẫn tiếp tục sứ vụ giáo dục, có sáng kiến dấn thân trong lãnh vực xã hội y tế, hỗ trợ về sư phạm, tư vấn cho những người bị chấn thương tâm lý vì chiến tranh, và tận dụng thời cơ, chị em mở “trường tình thương” qui tụ trẻ em lang thang ngoài đường tại thành phố Hồ Chí Minh.
Ở Congo, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng lớn rộng hơn, nạn tham nhũng làm lủng đoạn xã hội, chị em vẫn giữ trường lớp như một ưu tiên trong hoạt động. Nhưng bên cạnh đó cũng có những sáng kiến khác : xưởng may cho người khuyết tật, tạo công ăn việc làm cho phụ nữ, dự án nông nghiệp – chăn nuôi, lập cộng đoàn mới tại Mukula-kulu để cùng gầy dựng với dân làng, chứ không làm thay người ta.
Tại châu Âu, xã hội bị tục hóa và hiện trạng chung là các chị ngày càng già yếu, khiến các chị phải chuyển dần các trường học vào tay giáo dân, những người tha thiết làm việc theo tinh thần các Đấng lập Dòng. Các giám hiệu (nam và nữ) của 16 trường họp thành “Fondation Pierre Fourier – Alix le Clerc”. Hội Dòng đảm nhận vai trò đồng hành – linh hoạt về mặt tinh thần, trong tình bằng hữu và huynh đệ. Các chị đã về hưu cũng đảm nhận nhiều công tác thiện nguyện giúp đỡ những người cô thân cô thế.
Trung thành hoàn toàn với ơn gọi giáo dục, hầu như khắp nơi các chị em chấp nhận rời bỏ những nhiệm sở chủ chốt trong các “công trình” trước đó. Từ đó, nhiều dấu chỉ thời đại xuất hiện trước mắt chúng ta:
- các xứ Đông Âu mở cửa,
- chủ nghĩa siêu tự do, ý thức hệ duy nhất tồn tại sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ với một hệ lụy tất nhiên : chủ trương “lợi nhuận trước mắt” cố thách thức phong trào sinh thái tìm kiếm những giải pháp khác (như hội nghị các chuyên gia đang tìm gầy dựng một thế giới khác hẳn) và xây dựng một môi trường sinh thái lành mạnh hơn,
- những vấn nạn quan trọng về đạo đức sinh học được đặt ra,
- vị trí thấp kém của phụ nữ,
- bạo lực gia tăng, con người mất định hướng,
- tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống,
- bảo thủ Hồi giáo phát triển mạnh,
và còn nhiều dấu chỉ khác nữa…. Hiện nay, những dấu chỉ đó tác động theo nhiều mức độ khác nhau, ảnh hưởng trên cuộc sống của Hội Dòng, và đối với chọn lựa dấn thân của chị em : có chị chuyên sâu thần học môi sinh – phụ nữ, có chị đẩy mạnh y học dân tộc dùng cây cỏ làm thuốc…
Như vậy, từ chỗ có một sự nghiệp chung vốn xác định chỗ đứng của mỗi người, vốn là nơi để tiếp đón người khác đến làm việc với mình, chúng ta đã chuyển sang những cách dấn thân đa dạng, mà chính chúng ta đến với người khác, đi vào những cơ cấu và tổ chức rộng lớn hơn sự nghiệp của chúng ta trước đây.
Tôi thiết nghĩ đây là điểm chính yếu của nếp sống kinh sĩ : nếu đời đan tu tách ra khỏi thế gian thì đời kinh sĩ hội nhập và hoạt động trong thực tại của thế giới. Điều này đòi hỏi phải biết phân định (có khả năng phân tích tình hình, thấy rõ, và nhận định trước khi hành động), biết đối thoại, cầu nguyện (Cha Pierre Fourier nói : hãy sốt sắng cầu nguyện rồi hẵn tra tay vào việc”).
Cần phải táo bạo để làm điều mới mẻ dù có thể gặp rủi ro.
Nếu chúng ta nghe mẹ Alix nói : « Phải lập một ngôi nhà mới » và cha Piere Fourier nói : « Hãy dám làm, hãy tra tay vào việc, mạnh dạn liều lĩnh, nếu cần cứ chạy mau », thì tất cả chúng ta cũng nhạy bén cảm nhận được ưu tư của các ngài về sự hiệp nhất. Khi chúng ta làm nhiều công việc đa dạng, liệu chúng ta có bị phân tán không ? Làm thế nào để duy trì sự hiệp nhất trong Hội Dòng ?
Trung Ương giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì sự hiệp nhất, đó là ước mơ xa xưa của cha Pierre Fourier. Không phải theo kiểu từ trên cao đưa ra những quyết định hay đường hướng (khi Trung Ương “bổ nhiệm”, thường đó là phê chuẩn kết quả bầu cử ở cấp Tỉnh Dòng – hoàn toàn như cách cha Pierre Fourier thường làm khi xưa, là luôn quan tâm lấy ý kiến của chị em trước bất cứ quyết định quan trọng nào) nhưng làm sao cho « tất cả chị em được chia sẻ những kinh nghiệm phong phú chị em đã trải qua, trong những hoàn cảnh sống và những thực tại dấn thân khác nhau » (HC 1984 số 147). Điều này có được là nhờ những cuộc gặp gỡ quốc tế và việc thành lập những ủy ban quy tụ chị em từ nhiều quốc gia để cùng suy nghĩ và hành động trong những lãnh vực khác nhau (giáo dục – công lý).
Sự hiệp nhất của Hội Dòng chỉ có thể phát xuất từ “phía dưới”. Đành rằng cơ chế có nhiệm vụ nâng đỡ chị em, nhưng mỗi chị em có trách nhiệm duy trì những mối liên lạc với nhau. Dù sống trong những cộng đoàn lớn hay trong những nhóm nhỏ, thậm chí sống một mình đi nữa, « dẫu đời sống huynh đệ của chúng ta mang hình thức nào, điều chính yếu vẫn là phẩm chất của mối tình liên kết chúng ta » (HC 13). Sự hiệp nhất của chúng ta được diễn tả qua tình liên đới (kể cả về tài chánh), qua lòng tôn trọng lẫn nhau trong đời sống huynh đệ và trong cách điều hành, qua sự hiệp thông liên kết chị em thi hành những tác vụ rất khác nhau.
Nếu chúng ta muốn chứng thực « Ngọt ngào êm dịu lắm thay, chị em được sống vui vầy bên nhau » thì đừng quên rằng các mối liên hệ trên là tương quan của những người « sống đời tông đồ… cố gắng mưu ích cho mọi người với lòng bác ái bao la, với nhiệt huyết tận tình và làm việc liên lỉ » (Lời mở đầu HC 1640). Chúng ta ghi khắc lời thánh Âu-Tinh :
« Hiệp nhất trong điều chính yếu, tự do trong những lựa chọn,
chúng ta hướng đến bác ái trên hết mọi sự ».
[1] Xem R. Hostie “Sự xuất hiện và biến dạng của các dòng tu. Khía cạnh tâm lý” – DDB 1972 trang 114-128.
